Việt Nam Sử Lược

[VNSL5] Chương IX: Quân nước Pháp lấy Bắc Kỳ

Quyển V: Cận kim thời đại

Chương IX: Quân nước Pháp lấy Bắc Kỳ

1. Người Pháp tìm đường sang Tàu

Từ khi nước Pháp lấy xong đất Nam kỳ rồi, suý phủ ở Sài Gòn sửa sang mọi việc, và cho người đi xem xét tình thế và sông núi ở Trung kỳ và Bắc kỳ để mở mang sự giao thông. Lại có ý muốn tìm đường thông sang nước Tàu, bởi vậy tháng 5 năm Bính dần (1866), Thiếu tướng De la Grandière sai Trung tá Doudart de Lagrée cùng với đại uý Francis Garnier (Ngạc nhi) và mấy người Pháp nữa theo sông Mékong đi tìm đường sang Tàu. Đến tháng 3 năm Mậu Thìn (1868), non hai năm trời, ông Doudart de Lagrée mới sang đến đất Vân Nam. Nhưng chẳng may ông ấy phải bệnh đau gan mà chết. Ông Francis Garnier đem xác ông ấy đi qua nước Tàu, rồi xuống tàu thủy về Sài Gòn.

Đến năm Canh Ngọ (1870) là năm Tự Đức thứ 23, ở bên Tây, nước Pháp đánh nhau với nước Phổ; quân Pháp thua, Pháp hoàng là Nã-phá-luân đệ tam bị bắt. Dân nước Pháp bỏ đế quốc mà lập Dân chủ cộng hoà. Tuy ở bên Pháp có sự chiến tranh, nhưng ở bên Viễn đông này, quân Pháp vẫn giữ vững đất Nam kỳ. Vả Triều đình ở Huế còn bận dẹp giặc Khách ở Bắc kỳ, cho nên cũng không sinh sự lôi thôi gì cả.

2. Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis)

Thủa ấy, có một người Pháp tên là Jean Dupuis, ta gọi là Đồ Phổ Nghĩa mấy năm trước đã đi du lịch ở các tỉnh bên Tàu, để tìm cách buôn bán, biết có sông Hồng Hà từ đất Vân Nam chảy qua Bắc kỳ ra bể, là một đường tiện lợi hơn, bèn nhận với quan nhà Thanh ở Vân Nam để chở đồ binh khí sang bán.

Đồ Phổ Nghĩa về cùng với một người Pháp nữa tên là Millot buôn bán ở Thượng Hải, trù tính việc chở binh khí sang Vân Nam, đoạn rồi về Pháp để mua hàng. Khi trở sang bên này, Đồ Phổ Nghĩa vào Sài Gòn xin Suý phủ giúp thanh thế cho để đi qua Bắc kỳ, Viên Thống đốc Nam kỳ lúc bấy giờ là lục quân Thiếu tướng d’ Arhaud, có hứa với Đồ Phổ Nghĩa cho chiếc tàu Bourayne đi theo.

Đồ Phổ Nghĩa sang Hương Cảng để cùng với Millot đem ba chiếc tàu con là Hồng Giang, Lao Kay và Sơn Tây chở đồ binh khí và hàng hoá vào Quảng Yên. Trong lúc ấy Hải quân trung tá Sénès đã đem tàu Bourayne ra Bắc kỳ, rồi lên Hải Dương, Hà Nội, Bắc Ninh đi xem các nơi.

Trung tá ở Bắc Ninh nghe tin bọn Đồ Phổ Nghĩa đã đến Quảng Yên, liền trở ra để cùng bàn với quan Khâm sai Lê Tuấn về việc thông thương ở sông Hồng Hà.

Ông Lê Tuấn không có lệnh Triều đình, không dám tự tiện, nói xin đợi vài mươi hôm để có mệnh nhà vua ra sẽ hay.

Đồ Phổ Nghĩa và Millot thấy đợi lâu, bèn cứ đem tàu lên đóng ở Hà Nội, rồi thuê thuyền chở đồ lên Vân Nam. Bấy giờ là cuối năm Nhân Thân (1872), là năm Tự Đức thứ 25. Thuyền của Đồ Phổ Nghĩa đi qua những đồn của quân ta, của giặc cờ vàng và giặc cờ đen đều vô sự cả. Khi lên đến Vân Nam, quan nhà Thanh cho chở đồ kháng vật xuống, đến tháng tư năm Quí Dậu (1873), thì Đồ Phổ Nghĩa và Millot lại trở về đến Hà Nội, đem một bọn lính cờ vàng về theo. millot lại trở về đến Hà Nội, đem một bọn lính cờ vàng về theo. millot thì vào Sài Gòn nói cho Suý phủ biết tình thế ở Bắc Kỳ, và nhân thể đem đồ kháng vật sang bán ở Hương Cảng. Còn Đồ Phổ Nghĩa thì ở lại Hà Nội, đóng ở phố Mới bây giờ, rồi cùng với mấy người Khách là Bành Lợi Ký, Quan Tá Đình mua gạo, mua muối chở lên Vân Nam.

Bấy giờ luật nước ta cấm không cho chở muối sang Tàu, mà việc thông thương ở sông Hồng Hà cũng chưa định rõ thế nào, nhưng Đồ Phổ Nghĩa tự xưng là có lệnh quan Tàu cho, thì không cần phải theo luật nước Nam, vì nước Nam là một nước phải thần phục nước Tàu.

Đồ Phổ Nghĩa không hiểu rõ sự giao thiệp nước Tàu và nước ta ngày trước. Đối với Tàu thì bề ngoài nước ta tuy xưng cống thần, nhưng kỳ thực vẫn là độc lập. Khi có việc gì, phải có sứ hai nước sang thương nghị rồi mới thi hành. Mà có khi sứ nước Tàu sang bàn điều gì, nước ta không thuận cũng thôi, chứ không có phép tự tiện mà làm được. Chỉ trừ nước Tàu ỷ thế mạnh mà bắt nạt, như đời nhà Nguyên, nhà Minh và nhà Thanh, thì lại có ông Trần Hưng Đạo, ông Lê Thái Tổ và ông Nguyễn Quang Trung tỏ cho người Tàu biết rằng nước Nam vốn không phải đất thuộc địa của Tàu.

Tuy vậy, quan ta phải nể Đồ Phổ Nghĩa là người nước Pháp, sợ có việc gì, thì thành ra bất hoà với Suý phủ ở Sài Gòn, cho nên cứ dùng lời nói ngọt để can ông ấy đừng làm điều trái với luật nước. Nhưng ông ấy cứ một niềm tự ý mình mà làm. Quan ta nhờ cả giám mục Puginier ở Kẻ Sở lên can cũng không được.

Sau quan ta có bắt mấy tên khách Bành Lợi Ký và Quan Tá Đình về sự đem thuyền chở muối và gạo lên Vân Nam, thì Đồ Phổ Nghĩa đem người đi bắt quan phòng thành Hà Nội và quan huyện Thọ Xương, đem xuống thuyền giam lại. Quan ta cũng ngơ ngác không biết ra thế nào. Một bên thì cố tình sinh sự, một bên thì mệnh nhà vua ra không được lôi thôi điều gì.

Bấy giờ Triều đình sai quan Hữu tham tri bộ Binh là Phan Đình Bình làm khâm phái ra giao cho ông Nguyễn Tri Phương phải thu xếp cho yên chuyện ấy. Ông Nguyễn Tri Phương mới sai quan bố chính là Vũ Đường định ngày mời Đồ Phổ Nghĩa đến Hội quán Quảng Đông, để hội nghị. Khi hai bên đến hội đồng, quan ta nói rằng sự giao thiệp với nước Nam đã có tờ hoà ước năm Nhâm Tuất (1862), và sự đem muối và gạo lên bán ở Vân nam là trái với tờ hoà ước ấy, và lại trái với luật bản quốc. Đồ Phổ Nghĩa cãi rằng ông ấy có lệnh quan Tàu cho là đủ, không cần phải xin phép gì nữa, rồi đứng dậy ra về.

Triều đình ở Huế thấy việc lôi thôi mãi, sợ để lâu thành ra nhiễu sự, mới sai ông Lê Tuấn, ông Nguyễn Văn Tường và ông Nguyễn Tăng Doãn vào sứ Sài Gòn, để thương nghị về việc ba tỉnh phía tây đất Nam kỳ và nhân thể nhờ Suý phủ phân xử việc Đồ Phổ Nghĩa cho xong.

3. Đại úy Francis Garnier (Ngạc Nhi) ra Hà Nội

Viên Thống đốc Nam kỳ bấy giờ là Hải quân Thiếu tướng Dupré vốn đã lưu ý về việc Bắc kỳ. Trước đã viết thư về cho Thượng thư Thuộc địa bộ ở Paris nói rằng: “Đất Bắc kỳ là đất tiếp giáp với những tỉnh tây nam nước Tàu, ta nên chiếm giữ lấy thì sự cai trị của ta ở Viễn đông này mới được chắc chắn”.

Nhưng bên Pháp bấy giờ mới đánh nhau với nước Phổ vừa xong, không muốn gây chuyện khác, bèn điện sang cho Thiếu tướng rằng: “Không được sinh sự ở Bắc kỳ.” Đến khi Millot về Sài Gòn kể công việc ở Bắc kỳ, Thiếu tướng lại điện về Paris nói rằng: “Việc Đồ Phổ Nghĩa ở Bắc kỳ đã thành công rồi. Cần phải lấy xứ Bắc kỳ và giữ lấy con đường thông sang Tàu. Không cần phải viện binh. Thành công chắc lắm.” Ngay hôm ấy, Thiếu tướng lại viết thêm một cái thư về nói rõ mọi lẽ, và quyết rằng xin chính phủ để cho Thiếu tướng được tự tiện, hễ có việc gì thì Thiếu tướng xin chịu lỗi (Sách “L’Empire d’ Annam” của capitaine Ch. Gosselin).

Đang lúc ấy thì Triều đình ở Huế sai bọn ông Lê Tuấn vào xin Thiếu tướng ra điều đình việc Đồ Phổ Nghĩa ở Bắc Kỳ.

Cứ như ú của Thiếu tướng Dupré điện về cho chính phủ Pháp, thì Thiếu tướng chỉ mong có cái cơ hội gì để đem quân ra Bắc kỳ. Nay thấu Triều đình ta vào nhờ Suý phủ ở Sài gòn phân xử việc Đồ Phổ Nghĩa, thật là gặp được cái dịp mình đang mong, Thiếu tướng liền gọi quan Hải quân đại uý Francis Garnier ở Thượng Hải về, rồi sai ra Hà Nội, nói rằng ra phân xử việc Đồ Phổ Nghĩa.

Đại uý Francis Garnier đem mấy chiếc tàu con và 170 người lính ra đến cửa Thuận, nghỉ lại mấy hôm để đợi quan khâm sai cùng ra Bắc kỳ. Đến tháng 10 năm Quí Dậu (1873), thì các quan ra đến Hà Nội.

Bấy giờ ai cũng tưởng là đại uý Francis Garnier ra chuyến này thì mọi việc xong cả, cho nên đi đến đâu quan ta cũng tiếp đãi rất trọng hậu. Nhưng xem những thư từ của đại uý lúc bấy giờ, thì cốt ra có chủ ý khác. Khi ở Sài Gòn sắp đi, đại uý viết thư về cho người anh ở bên Pháp nói rằng: “Lệnh của Suý phủ cho, là được tự tiện. Việc gì Hải quân Thiếu tướng cũng ủy thác cho tôi cả. Vậy vì nước Pháp mà tôi phải cố sức.” Đến khi ra đến Hải Dương, đại uý vào ở Kẻ Sặt, rồi viết thư sai người đem cho Đồ Phổ Nghĩa, báo tin cho ông ấy biết cái chủ đích của mình, và lại nói rằng trăm sự đại uý trông cậy vào ông ấy chỉ bảo cho, bởi vì ông ấy đã quen biết mọi việc ở Bắc kỳ.

Đồ Phổ Nghĩa tiếp được thư, liền đem chiếc tàu Manhao đi đón đại uý. Lên đến Hà Nội, địa uý đem mấy người đi thẳng vào thành ra mắt ông Nguyễn Tri Phương, và đòi đem quân đóng ở trong thành. Quan ta nói mãi, Đại uý mới thuận ra đóng ở Trường Thi. Đoạn tồi đại uý viết thư mời giám mục Puginier ở Kẻ Sở lên Hà Nội, để nhờ ông làm thông ngôn. Đại uý lại làm từ hiểu dụ, cho dân biết, nói rằng: “bản chức ra Bắc kỳ cốt để dẹp cho yên giặc giã, và để mở mang sự buôn bán”.

4. Hạ thành Hà Nội năm Quí dậu (1873)

Quan ta thấy đại uý không nói gì đến việc Đồ Phổ Nghĩa, mà lại nói những việc dẹp giặc và mở sự buôn bán, thì đều lấy làm phân vân. Sau lại thấy tàu và quân ở Sài Gòn tiếp ra, quan ta lại càng lo lắm. Được mấy hôm, đại uý không bàn hỏi gì đến quan ta, tự tiện làm tờ tuyên bố sợ mở sông Hồng Hà cho người nước Pháp, nước I-pha-nho và nước Tàu được ra vào buôn bán.

Quan ta lúc bấy giờ cũng bối rối quá. Việc giao thiệp và việc buôn bán với nước Pháp thì đã định rõ trong tờ hoà ước năm Nhâm Tuất (1862), nay thấy đại uý Francis Garnier đường đột làm như thế, thì cũng lấy làm lo, cho nên cũng có tìm cách phòng bị. Mà đại uý cũng đã biết trước rằng thế nào quan ta cũng không chịu, cho nên đã định kế đánh thành Hà Nội.

Đến đầu tháng 10, một mặt đại uý viết thư cho ông Nguyễn Tri Phương, trách quan ta làm ngăn trở việc buôn bán của Đồ Phổ Nghĩa; vậy vì sự văn minh và vì quyền lợi của nước Pháp, cho nên suý phủ ở Sài Gòn sai đại uý ra mở sự buôn bán ở Bắc kỳ. Dẫu quan Việt Nam có thuận hay không cũng mặc, đại uý cứ theo lệnh quan suý phủ mà thi hành. Một mặt đại uý bàn định với Đồ Phổ Nghĩa định ngày đánh thành và bắt ông Nguyễn Tri Phương giải vào Sài Gòn.

Cứ như sách của Đồ Phổ Nghĩa, thì lúc bấy giờ có cả những người mạo xưng là đảng nhà Lê, cũng xin theo đại uý để vào thành làm nội ứng.

Đến sáng hôm rằm tháng 10 năm Quí Dậu (1873), thì quân Pháp phát súng bắn vào thành Hà Nội. Ông Nguyễn Tri Phương cùng với con là phò mã Nguyễn Lâm hoảng hốt lên thành giữ cửa Đông và cửa Nam. Được non một giờ đồng hồ thì thành vỡ, phò mã Lâm trúng đạn chết, ông Nguyễn Tri Phương thì bị thương nặng. Quân Pháp vào thành bắt được ông Nguyễn Tri Phương và quan khâm phái Phan Đình Bình đem xuống tàu.

Ông Nguyễn Tri Phương nghĩ mình là một bậc lão thần thờ vua đã trải ba triều, đánh nam dẹp bắc đã qua mấy phen, nay chẳng may vì việc nước mà bị thương, đến nỗi phải bắt, ông quyết chí không chịu buộc thuốc và nhịn ăn mà chết.

Ông Nguyễn Tri Phương là người ở Thừa Thiên, do lại điển xuất thân, làm quan từ đời vua Thánh Tổ, trải qua ba triều, mà nhà vẫn thanh bạch, chỉ đem chí lự mà lo việc nước, chứ không thiết của cải. Nhưng chẳng may phải khi quốc bộ gian nan, ông phải đem thân hiến cho nước, thành ra cả nhà cha con, anh em đều mất vì việc nước. Thật là một nhà trung liệt xưa nay ít có vậy.

5. Lấy mất tỉnh ở Trung Châu

Thành Hà Nội thất thủ rồi, quan ta thì trốn tránh đi cả, giặc cướp lại nhân dịp nổi lên. Đại uý Francis Garnoier lại cho những người theo với mình đi làm quan các nơi để chống với quan triều, rồi lại sai người đi đánh lấy tỉnh Ninh Bình, Nam Định và Hải Dương.

Quan ta ở các tỉnh đều ngơ ngác không biết ra thế nào, hễ thấy người Tây đến là bỏ chạy. Bởi vậy, chỉ có người Pháp tên là Hautefeuille và 7 người lính tây mà hạ được thành Ninh Bình, và chỉ trong 20 ngày mà 4 tỉnh ở Trung châu mất cả.

6. Đại úy Francis Garnier chết

Triều đình được tin biến ở Bắc Kỳ, vội vàng sai ông Trần Đình Túc, ông Nguyễn Trọng Hợp, ông Trương Gia Hội cùng với giám mục Bình (Mgr Bohier) và linh mục Đăng (Dangelzer) ra Hà Nội, để điều đình mọi việc và sai ông Hoàng Kế Viêm ở Sơn Tây làm tiết chế quân vụ, để phòng giữ các nơi. Lại sai ông Lê Tuấn làm toàn quyền, ông Nguyễn Văn Tường làm phó, vào thương thuyết với suý phủ ở Sài Gòn về việc đại uý Francis Garnier đánh Bắc Kỳ.

Lúc bấy giờ ông Hoàng Kế Viêm đóng ở Sơn Tây, có đảng cờ đen là bọn Lưu Vĩnh Phúc về giúp. Vua phong cho Lưu Vĩnh Phúc làm Đề đốc, để cùng với quan quân chống giữ quân Pháp. Lưu Vĩnh Phúc đem quân về đóng ở mạn phủ Hoài Đức. Khi ông Trần Đình Túc và ông Nguyễn Trọng Hợp đang thương thuyết với đại uý Francis Garnier, thì quân cờ đen về đánh Hà Nội. Đại uý đem quân đi đuổi đánh, lên đến Cầu Giấy thì bị phục quân giết chết.

7. Ông Philastre ra Hà Nội

Nguyên khi Thiếu tướng Dupré sai đại uý Francis Garnier ra Bắc kỳ là tự ý mình chứ chính phủ nước Pháp vẫn không thuận, bởi vậy khi được tin đại uý đã khởi sự đánh Hà Nội, Thiếu tướng liền sai Hải quân đại uý, kiêm chức thống soái việc hình luật ở Nam kỳ, là ông Philastre (ta gọi là Hoắc đoạ sinh) cùng với quan phó sứ nước ta là ông Nguyễn Văn Tường ra điều đình mọi việc ở Bắc kỳ.

Đến Cửa Cấm thì ông Philastre và ông Nguyễn Văn Tường mới biết rằng đại uý Francis Garnier đã bị quân cờ đen giết mất rồi. Sử chép rằng khi được tin ấy, ông Philastre giận quá mà làm lỡ việc, mới ung dung mà nói rằng: “Việc đánh lấy Hà Nội suý phủ bảo không phải là bản ý,mà quân bản quốc ở 4 tỉnh Bắc kỳ cũng không tranh dành gì cả. Vậy hai bên không có làm điều gì trái nhau. Nay địa uý Francis Garnier chết, hoặc là bị giết chết, hoặc là vì dân nổi lên làm loạn, việc ấy ta chưa rõ. Huống chi trả thành lại để định hoà ước cho xong, ấy là lệnh của quý suý phủ; mà thu lấy thành rồi mới nghị hoà, ấy là mệnh lệnh của bản quốc. Còn như việc Hà Nội giết đại uý Francis Garnier thì cũng như đại uý Francis Garnier giết ông Nguyễn Tri Phương, việc đó xuất ư ý ngoại, chứ có phải lỗi chúng ta đâu. Bây giờ chúng ta ra đây, mắt chưa trông thấy việc gì cả, mới nghe thấy tin báo mà đã bỏ về, thế chẳng hoá ra mình đi uổng mất công không hay sao? Chi bằng ta cho người đưa thư lên Hà Nội bảo đem tàu xuống đón, chúng ta sẽ lên tới nơi, hoặc cứ theo mệnh lệnh mà làm, hoặc là xét rõ nguyên do tại làm sao mà đại uý Francis Garnier chết, rồi sẽ báo tin, thế chẳng ổn việc lắm hay sao?” Ông Philastre nghe lời ấy, bèn sai người đưa thư lên cho Hà Nội biết.

Ngay lúc ấy có tàu “Decrès” còn đóng ở gần Đồ Sơn, ông Philastre muốn sang tàu ấy để cho chiếc tàu mình đi là “D’ Estrées” trở về báo tin cho Sài Gòn biết. Nguyễn Văn Tường ngăn đi rằng: “Tàu của mình đã vào cửa rồi lại trở ra, nhỡ sĩ dân biết, lại bắt chước Hà Nội mà làm bậy, thì làm thế nào mà ngăn cấm được; sợ có việc tổn hại, thì lấy lẽ gì mà bẩm với quí suý. Vậy nay xin sai chiếc tàu “Decrès” ra bể, đuổi đánh những giặc Tàu ô, còn cứ đem tàu “D’ Estrées” vào đến hải Phòng, rồi ta lên Hải Dương, đem trả tỉnh thành lại cho bản triều, để tỏ cái lòng tin cho sĩ dân biết, sau ta lên Hà Nội, trả nốt cả mấy thành kia, và tra hỏi việc đại uý Francis Garnier chết ra thế nào về bẩm cho quí suý biết”.

Ông Philastre vốn là người rất công bằng, lại thấy ông Nguyễn Văn Tường nói hợp lẽ, bèn thuận nghe, và lên Hải Dương truyền trả lại cả 4 thành cho quan ta coi giữ. Còn những tàu bè và quân lính của Pháp ở các tỉnh thì thu về cả Hà Nội, rồi định ngày rút quân ra đóng ở Hải Phòng đợi đến ngày ký hoà ước xong thì rút về. Bấy giờ là tháng giêng năm Giáp Tuất (1874), là năm Tự Đức thứ 27.

Đồ Phổ Nghĩa thấy ông Philastre phá mất cả những việc của mình đã làm với đại uý Francis Garnier, bèn vào Sài Gòn kêu với suý phủ và đòi tiền phí tổn non một triệu nguyên.

8. Hòa ước năm Giáp Tuất (1874)

Mọi việc ở Hà Nội xếp đặt xong rồi, suý phủ ở Sài Gòn sai ông Rheinart (Lê Na) ra thay cho ông Philastre. Ông Philastre cùng với ông Nguyễn Văn Tường về Nam Kỳ, định sự hoà ước cho kịp ngày Thiếu tướng Dupré về Pháp.

Ngày 27 tháng giêng năm Giáp Tuất (1874), là năm Tự Đức thứ 27, Hải quân Thiếu tướng Dupré và ông Lê Tuấn, ông Nguyễn Văn Tường ký tờ hoà ước cả thảy 22 khoản, đại lược có những khoản này là quan trọng hơn cả.

Khoản II. Quan thống lĩnh nước Pháp nhận quyền độc lập của vua nước Nam không phải thần phục nước nào nữa, và khi nào vua nước Nam có cần đến việc gì để đánh dẹp giặc giã, thì nước Pháp sẵn lòng giúp mà không yêu cầu điều gì.

Khoản III. Vua nước Nam phải đoan nhận theo chính lược ngoại giao của nước Pháp, và chính lược ngoại giao hiện lúc bấy giờ thế nào phải để nguyên như thế, không được đổi khác đi.

Quan thống lĩnh nước Pháp lại tặng vua nước Nam:

1. 5 chiếc tàu có đủ máy móc súng ống.

2. 100 khẩu súng đại bác, và mỗi khẩu có 200 viên đạn.

3. 1.000 khẩu súng tay và 5.000 viên đạn.

Khoản IV. Quan thống lĩnh nước Pháp hứa cho quan sang giúp vua nước Nam để dạy tập lính thủy, lính bộ; cho những kỹ sư sang dạy làm mọi việc, và cho những người giỏi việc tài chính sang tổ chức việc thuế má và việc thương chính…

Khoản V. Vua nước Nam phải thuận nhường đứt đất 6 tỉnh Nam kỳ cho nước Pháp.

Khoản IX. Vua nước Nam phải để cho giáo sĩ được tự do đi giảng đạo, và để cho dân trong nước được tự do theo đạo.

Khoản XI. Vua nước Nam phải mở cửa Thị Nại (Qui Nhơn), cửa Ninh Hải (Hải Phòng), thành Hà Nội và sông Hồng Hà, cho ngoại quốc vào buôn bán.

Khoản XIII. Nước Pháp được quyền đặt lĩnh sự ở các cửa bể và các thành thị đã mở ra cho ngoại quốc vào buôn bán.

Khoản XV. Người nước Pháp hay là người ngoại quốc, hễ có giấy thông hành của quan lĩnh sự Pháp và có chữ quan Việt Nam phê nhận thì được phép đi xem các nơi ở trong nước.

Khoản XVI. Người nước Pháp và người ngoại quốc có điều gì kiện tụng tại đất Việt Nam, thì do lĩnh sự Pháp phân xử.

Khoản XX. Khi nào tờ hoà ước này ký xong, thì quan thống lĩnh nước Pháp đặt sứ thần ở Huế, để chiếu những điều đã giao ước mà thi hành. Vua nước Nam cũng được quyền đặt sứ thần ở Paris và ở Sài Gòn.

Tờ hoà ước ấy ký xong, thì quan chánh sứ Lê Tuấn mất, ông Nguyễn Văn Tường về Huế. Thiếu tướng Dupré giao mọi việc ở Nam kỳ cho Hải quân Thiếu tướng Krantz quyền lĩnh, rồi về Pháp.

Tháng 6, triều đình ở Huế lại sai quan hình bộ Thượng thư là Nguyễn Văn Tường và quan Lại bộ thị lang là Nguyễn Tăng Doãn, vào Sài Gòn cùng với Thiếu tướng Kranzt định các lệ về sự buôn bán ở nước Nam. Đến 20 tháng 7, thì tờ thương ước lập xong.

Bài liên quan

54 nhận xét

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..