Việt Nam Sử Lược

[VNSL4] Chương VII: Người Âu châu sang nước Việt Nam

Chương VII: Người Âu châu sang nước Việt Nam

1. Sự đi tìm đất

Người Âu châu sang Á đông – Từ đời La Mã, đã có sách chép người Âu châu sang đến nước Tàu, nhưng không rõ cách giao thiệp ra làm sao; đến thập tam thế kỷ mới có ông Marco Polo, người nước Italia sang ở triều nhà Nguyên về đời vua Thế tổ Hốt Tất Liệt hằng 17 năm, rồi sau đi qua Ấn Độ Dương về nước, làm ra quyển sách: “Thế giới kỳ quan” (Les merveilles du monde), kể những chuyện ông ấy đã biết.

Về sau vào thập ngũ thế kỷ, ông Christophe Colomb dùng địa bàn chỉ nam (boussole) định đi qua Đại Tây Dương sang Ấn Độ, rồi tìm thấy châu Mỹ; đến năm 1479, người Bồ Đào Nha (Portugal) tên là Vasco de Gama đi vòng qua Hảo Vọng giác (Cap de Bonne Espérance) sang Ấn Độ Dương vào đất Ấn Độ. Năm 1521 lại có người Bồ Đào Nha tên là Magellan đi qua Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương vào đất Phi Luật Tân (Philippines).

Từ đó về sau người Bồ Đào Nha (Portugal), Tây Ban Nha (Espagne) và người Hòa Lan (Hollande) mới sang Á đông lấy đất thuộc địa và mở cửa hàng buôn bán như sau này:

Năm Quí Hợi (1563) về đời Gia Tĩnh nhà Minh, người Bồ Đào Nha đến ở đất Áo Môn (Ma Cao) nước Tàu.

Năm Mậu Thìn (1568) người Hòa Lan sang lấy đất Trà-và (Java) làm thuộc địa. Về sau dần dần người Bồ Đào Nha, người Pháp (France) và người Anh (Angleterre) đến ở đất Ấn Độ.

Người Âu châu sang đất Việt Nam. Người Âu châu sang buôn bán ở nước ta, thì có người Bồ Đào Nha đến ở xứ Nam trước hết cả, mở cửa hàng ở phố Hội An (tức là Faifo) thuộc đất Quảng Nam. Ở đấy lại có người Tàu, người Nhật Bản và người Hòa Lan đến buôn bán nhiều lắm. Sách của ông Maybon và Russier có chép rằng năm Giáp Dần (1614) đời chúa Sãi đã có người Bồ Đào Nha tên là Jean de la Croix đến lập lò đúc súng ở đất Thuận Hóa, mà bây giờ ở Huế người ta còn gọi chỗ ấy là Phường Đúc.

Ở ngoài Bắc thì trước đã có tàu của người Bồ Đào Nha ra vào buôn bán, nhưng mãi đến năm Đinh Sửu (1637) đời vua Thần Tông nhà Lê, Thanh Đô Vương Trịnh Tráng mới cho người Hòa Lan đến mở cửa hàng ở Phố Hiến (gần chỗ tỉnh lỵ Hưng Yên bấy giờ). Về sau ở đấy có người Nhật Bản, người Tàu, người Tiêm La đến buôn bán kể có 2.000 nóc nhà, làm thành ra chỗ vui vẻ lắm, cho nên tục ngữ bấy giờ có câu rằng: Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến…

Lúc bấy giờ người Bồ Đào Nha sang buôn bán ở trong Nam nhiều hơn, mà ở ngoài Bắc thì có người Hòa Lan nhiều hơn, nhưng thủa ấy người hai nước ấy hay tranh cạnh với nhau, bởi thế chúa Trịnh và chúa Nguyễn đều có ý muốn nhân cớ ấy mà nhờ họ giúp mình. Song, vì lợi buôn bán cho nên họ không chịu ra mặt giúp hẳn, thành ra lâu ngày các chúa cũng chán và lại lôi thôi về việc tông giáo, cho nên đến nằm Canh Thìn (1700) đời vua Lê Hi Tông, người Hòa Lan thôi không vào buôn bán ở ngoài Bắc nữa.

Đời bấy giờ người Anh và người Pháp cũng vào buôn bán ở nước ta. Năm Nhâm Tí (1672) đời vua Lê Hi Tông, người Anh đem chiếc tàu Zant vào xin mở cửa hàng buôn bán, chúa Trịnh cho xuống ở Phố Hiến, nhưng vì sau sự buôn bán không được thuận lợi, người Anh chỉ ở đến năm Đinh Sửu (1697) rồi thôi.

Còn người Pháp thì từ năm Canh Thân (1680) đã có tàu vào xin mở cửa hàng ở Phố Hiến; đến năm Nhâm Tuất (1682) lại có chiếc tàu Saint Joseph ở Tiêm La sang đem phẩm vật dâng chúa Thịnh.

Ở trong Nam thì năm Bính Dần (1686) có người Pháp tên là Verret được phép mở cửa hàng ở cù lao Côn Lôn. Đến năm Kỷ Tị (1749) lại có một người Pháp tên là Poivre đi chiếc tàu Machault vào cửa Hội An, xin vào yết kiến chúa Nguyễn và dâng tờ quốc thư cùng phẩm vật để tỏ tình giao hiếu của hai nước. Chúa Nguyễn cũng đáp thư lại, thuận cho người Pháp vào thông thương. Nhưng chẳng được bao lâu thì công ty của Pháp ở Ấn Độ bãi đi, cho nên sự thông thương với người Pháp cũng bãi.

2. Sự đi truyền giáo

Đạo Thiên chúa. Nguyên khi xưa toàn xứ châu Âu không có nhất định một tông giáo nào cả. Mỗi dân tộc thờ một vị thần riêng của mình. Thường hay lấy cái lực hoạt động của tạo hóa mà tưởng tượng ra các vị thần, rồi làm đền, làm đài, để thờ cúng. Như dân tộc Hi Lạp (Grec) và dân tộc La Mã (Romain) thờ thần Giu-bi-te (Jupiter), thần A-bô-lông (Apollon) và các vị thần khác vậy. Duy có dân tộc Do Thái (Juifs) ở đất Tiểu Á-tế-á, nay là đất Palestine đã được độc lập, chỉ thờ một vị thần gọi là Jéhovah ở thành Jérusalem. Dân ấy tin rằng thần Jéhovah sinh hóa vạn vật và người; cho nên người chỉ phải thờ một vị thần ấy mà thôi. Đến đời dân La Mã đến kiêm tính được cả đất Tiểu Á-tế-á, đất bắc A-phi-lị-gia và đất tây nam châu Âu, dân Do Thái cũng thuộc về La Mã, mà đạo Do Thái bấy giờ cũng đã suy lắm rồi. Lúc ấy đức Gia tô ra đời, nhân đạo Do Thái mà lập ra đạo mới (đạo Thiên chúa) dạy người lấy sự yêu mến và tôn kính Thiên chúa làm gốc, lấy bụng từ bi nhân thứ, coi người như anh em ruột thịt làm cốt. Từ đó về sau các môn đồ đem đạo ấy đi truyền bá các nơi. Ông Saint Pierre thì sang lập giáo đường ở tại kinh thành La Mã, ông Saint Paul thì đi truyền đạo ở khắp trong nước.

Lúc đầu đạo Thiên chúa bị nhiều phen vua La Mã nghiêm cấm, dùng cực hình mà giết hại các giáo sĩ và những người theo đạo mới, nhưng dẫu nguy nan thế nào mặc lòng, các môn đồ cứ một niềm đi truyền đạo khắp bốn phương. Mãi đến đầu đệ tứ thế kỷ (313) vua La Mã là Constantin mới cho giảng đạo Thiên chúa ở mọi nơi trong nước. Từ bấy giờ trở đi đạo Thiên chúa một ngày một thịnh, lập Giáo hoàng để thống nhất việc giáo, đặt Giám mục để coi việc giáo ở các nơi, lại sai giáo sĩ đi truyền đạo khắp trong thiên hạ: hễ ở đâu có người là có giáo sĩ đến dạy đạo. Bởi vậy cho nên chẳng bao lâu mà toàn Âu đều theo đạo Thiên chúa cả.

Ở bên Á đông ta thì từ đời nhà Đường (618-907) sử chép có Cảnh giáo (một phái đạo Gia tô của người chủ giáo tên là Nestorius lập ra từ đệ ngũ thế kỷ ở đông La Mã, rồi truyền sang nước Ba Tư và nước Tàu), nhưng vì bấy giờ đạo Phật đang thịnh, cho nên đạo Cảnh giáo mất dần đi. Mãi đến đời nhà Nguyên, nhà Minh mới thật có giáo sĩ sang giảng đạo Gia tô ở nước Tàu.

Đạo Thiên chúa sang nước Nam. Ở nước Nam ta từ khi đã có người châu Âu sang buôn bán, thì tất là có giáo sĩ sang dạy đạo. Cứ theo sách Khâm định Việt sử, thì từ năm Nguyên Hòa nguyên niên đời vua Trang Tông nhà Lê (1533) có người Tây tên là I-nê-khu đi đường bể vào giảng đạo Thiên chúa ở làng Ninh Cường, làng Quần Anh, thuộc huyện Nam Chân (tức Nam Trực) và ở làng Trà Lũ, thuộc huyện Giao Thủy.

Sách Nam sử của Trương Vĩnh Ký chép rằng năm Bính Thân (1596) đời ông Nguyễn Hoàng có người đạo sĩ Tây Ban Nha tên là Diego Adverte vào giảng đạo ở trong Nam trước hết cả. Nhưng lúc bấy giờ lại có mấy chiếc tàu Tây Ban Nha cùng đến, chúa Nguyễn sợ có ý quấy nhiễu gì chăng, bèn đuổi đi.

Đến năm Ất Mão (1615) đời chúa Sãi, giáo sĩ là P.Busomi lại đến giảng đạo, rồi đến năm Giáp Tí (1624) có giáo sĩ tên là Jean Rhodes, người Pháp, đến giảng đạo ở Phú Xuân và lập ra các giáo đường. Năm Bính Dần (1626) đời vua Lê Thần Tông, giáo sĩ là Baldinoti vào giảng đạo ở ngoài Bắc, bị chúa Trịnh không cho, phải bỏ đi. Được ít lâu ông Jean Rhodes ở trong Nam ra Bắc vào yết kiến chúa Trịnh và đem dâng cái đồng hồ quả lắc, chúa Trịnh cho ông Jean Rhodes được giảng đạo tại kinh đô.

Từ đó về sau các giáo sĩ cứ dần dần vào nước dạy đạo, mà người mình càng ngày càng theo đạo nhiều hơn. Nhưng vì nước ta tự xưa đến nay vẫn theo Nho giáo, lấy sự thờ cúng ông cha làm trọng, lấy sự tế tự thần thánh làm phải, mà lệ nước thì lấy sự cúng tế làm một việc rất quan trọng. Đột nhiên thấy nhiều người mình theo đạo Thiên chúa, bỏ cả các thói cũ, chỉ chuyên về một mặt theo đạo mới, bởi vậy cho nên trong Nam ngoài Bắc, vua chúa đều cho đạo ấy là một tà đạo, làm hủy hoại cả cái phong hóa của nước nhà xưa nay, bèn xuống chỉ cấm không cho người trong nước theo đạo mới nữa, và đặt ra phép nghiêm để bắt tội những kẻ không tuân theo chỉ dụ ấy.

Cứ theo trong sử thì năm Tân Vị (1631) ở trong Nam, chúa Thượng là Nguyễn Phúc Lan cấm không cho người Tây vào giảng đạo ở trong nước.

Năm Quí Mão (1663) ở ngoài Bắc, chúa Trịnh là Trịnh Tạc bắt đuổi các giáo sĩ và cấm không cho người mình theo đạo Gia tô.

Năm Giáp Thìn (1644) chúa Hiền ở miền Nam bắt giết những người đi giảng đạo ở Đà Nẵng.

Năm Bính Tí (1696) đời vua Lê Hi Tông, Trịnh Căn bắt đốt phá hết cả những sách đạo và nhà đạo ở các nơi và đuổi những người giảng đạo ra ngoài nước.

Năm Nhâm Thìn (1712) đời vua Lê Dụ Tông, Trịnh Cương bắt những người theo đạo Gia tô phải cạo trán và khắc vào mặt bốn chữ “học Hoa Lan đạo” (tức là Hollande – Hà Lan. Người Hòa-Lan sang buôn bán ở ngoài Bắc trước hết cả cho nên mới gọi là đạo Hòa-Lan. Vả lại lúc bấy giờ người Việt Nam ta không phân biệt được những nước nào, hễ thấy người Tây thì thường cứ gọi là Hòa-Lan).

Năm Giáp Tuất (1754) đời Cảnh Hưng, Trịnh Doanh lại nghiêm cấm một cách rất ngặt, không cho người ta đi theo đạo, và lại giết cả các đạo trưởng và đạo đồ.

Từ đó về sau việc cấm đạo một ngày một nghiêm, mà người đi giảng đạo cũng không lấy luật nước làm sợ, cứ cố sức dụ cho được nhiều người theo đạo. Rồi dần dần người trong nước phân ra bên lương bên giáo, ghen ghét nhau hơn người cừu địch. Vua quan thì thấy dùng phép thường không cấm được, mới dùng đến cực hình để mà trừng trị, giết hại bao nhiêu người vô tội.

Tóm lại mà xét, thì giả sử người ngoại quốc vào nước ta mà chỉ có việc buôn bán mà thôi, thì chắc rằng nước ta xưa nay vốn là một nước văn hiến, vua quan ta cũng không có lẽ gì mà ngăn cấm; nhưng bởi vì khi đã quan hệ đến việc sùng tín của mình là phải hơn, thành ra không ai khoan dung cho ai, rồi cứ phải dùng thế lực để mà đè nén nhau.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..