Việt Nam Sử Lược

[VNSL3] Chương V: Nhà Lý (Tiếp theo) (1010-1225)

Chương V: Nhà Lý (Tiếp theo) (1010-1225)

V. Lý Thần Tông (1128-1138)

Niên hiệu: Thiên Thuận (1128-1132), Thiên Chương Bảo Tự (1133- 1137)

Nhân Tông không có con, lập con của hoàng đệ là Sùng Hiền hầu lên làm Thái tử, nay lên nối ngôi, tức là vua Thần Tông (tục truyền rằng Thần Tông là con cầu tự được, mà ngài chính là ông Từ Đạo Hạnh hoá xác sinh ra. Ở Bắc Việt ai đi đến chùa Thầy thuộc Sơn Tây cũng nghe nói sự tích ông Từ Đạo Hạnh và ông Nguyễn Minh Không. Chuyện hoang đường, không thể tin là sự thật được).

Bấy giờ có các quan đại thần là các ông Trương Bá Ngọc, Lưu Khánh Đàm, Dương Anh Nhị giúp Thần Tông trị nước. Thần Tông vừa lên ngôi thì đại xá cho các tù phạm, và trả lại những ruộng đất tịch thu của quan dân ngày trước. Quân lính thì cho đổi phiên, cứ lần lượt 6 tháng một, được về làm ruộng. Như thế, việc binh không làm ngăn trở việc canh nông.

Giặc giã thời bấy giờ cũng ít. Một hai khi có người Chân Lạp và người Chiêm Thành sang quấy nhiễu ở mạn Nghệ An, nhưng đó là những đám cướp phá vặt vãnh không mấy nỗi mà quan quân đánh đuổi đi được.

Thần Tông làm vua được 10 năm thì mất, thọ 23 tuổi.

VI. Lý Anh Tông (1138-1175)

Niên hiệu: Thiệu Minh (1138- 1139)- Đại Định (1140-1162)- Chính Long Bảo Ứng (1163-1173)- Thiên Cảm Chí Bảo (1174- 1175).

1. Đỗ Vũ Anh

Thần Tông mất, triều đình tôn Thái tử là Thiên Tộ lên làm vua, tức là vua Anh Tông.

Anh Tông bấy giờ mới có 3 tuổi, Thái hậu là Lê thị cầm quyền nhiếp chính. Lê Thái hậu lại tư thông với Đỗ Anh Vũ, cho nên phàm việc gì bất cứ lớn nhỏ đều ở tay Đỗ Anh Vũ quyết đoán cả. Đỗ Anh Vũ được thể ra vào chỗ cung cấm, kiêu ngạo và khinh rẻ đình thần. Các quan như Vũ Đái, Nguyễn Dương, Nguyễn Quốc và Dương Tự Minh thấy Đỗ Anh Vũ lộng quyền quá độ, đều lo mưu trừ đi, nhưng sự không thành lại bị giết hại cả.

May nhờ thời bấy giờ có nhiều tôi giỏi như Tô Hiến Thành, Hoàng Nghĩa Hiền, Lý Công Tín làm quan tại triều cho nên Đỗ Anh Vũ không dám có ý khác.

2. Tô Hiến Thành

Ông Tô Hiến Thành giúp vua Anh Tông đi đánh dẹp, lập được nhiều công to, như bắt được giặc Thân Lợi, phá được giặc Ngưu Hống và dẹp yên giặc Lào, được phong làm chức Thái uý coi giữ việc binh. Ông luyện tập quân lính, kén chọn những người tài giỏi để làm tướng hiệu. Bởi vậy binh thế nhà Lý lúc bấy giờ lại phấn chấn lên. Ông giỏi việc võ mà lại chăm việc văn. Ông xin vua khai hoá việc học hành, và làm đền thờ đức Khổng Tử ở cửa nam thành Thăng Long, để tỏ lòng mộ Nho học.

3. Giặc Thân Lợi

Vua Anh Tông vừa mới lên làm vua được hai năm, thì ở mạn Thái Nguyên có giặc Thân Lợi làm loạn. Thân Lợi xưng là con riêng vua Nhân Tông, trước đã xuất gia đi tu, rồi chiêu tập những đồ vong mạng hơn 1.000 người, chiếm giữ mạn Thái Nguyên, xưng vương phong tước, đem quân đi đánh phá các nơi. Quan quân đánh mãi không được.

Năm Tân Dậu (1141) Thân Lợi về vây phủ Phú Lương. Đỗ Anh Vũ đem quân lên đánh, Thân Lợi chạy lên Lạng Châu, tức là Lạng Sơn bị ông Tô Hiến Thành đuổi bắt được, đem về kinh làm tội.

4. Việc chính trị

Năm Giáp Thân (1164) vua nhà Tống đổi Giao Chỉ quận làm An Nam quốc, và phong cho Anh Tông là An Nam Quốc Vương.

Nguyên khi trước Tàu gọi ta là Giao Chỉ quận, rồi sau đổi là Giao Châu, đến đời nhà Đường đặt An Nam đô hộ phủ. Nhà Đinh lên đặt là Đại Cồ Việt, vua Lý Thánh Tông đổi là Đại Việt. Nhưng Tàu vẫn phong cho vua ta là Giao Chỉ Quận Vương, đến bấy giờ mới đổi là An Nam Quốc Vương. Nước ta thành tên là nước An Nam khởi đầu từ đấy.

Năm Tân Mão và năm Nhâm Thìn (1171-1172) Anh Tông đi chơi xem sơn xuyên hiểm trở, đường sá xa gần và sự sinh hoạt của dân gian, rồi sai quan làm quyển địa đồ nước An Nam (nay đã bị thất lạc).

Năm Ất Mùi (1175), Anh Tông phong cho Tô Hiến Thành làm Thái phó Bình chương quân quốc trọng sự và gia phong vương tước. Anh Tông đau, ủy thác thái tử là Long Cán cho Tô Hiến Thành. Anh Tông mất trị vì được 37 năm, thọ 40 tuổi.

VII. Lý Cao Tông (1176-1210)

Niên hiệu: Trinh Phù (1176-1185), Thiên Tư Gia Thụy (1186-1201), Thiên Gia Bảo Hữu (1202-1204), Trị Bình Long Ứng (1205-1210).

1. Tô Hiến Thành làm phụ chánh

Khi vua Anh Tông mất, thái tử Long Cán chưa đầy 3 tuổi, bà Chiêu Linh Thái hậu muốn lập người con trưởng là con mình tên là Long Xưởng (trước đã lập làm thái tử, sau vì có tội phải giáng xuống làm thứ dân) lên làm vua, đem vàng bạc đút lót cho vợ Tô Hiến Thành, nhưng ông nhất thiết không chịu, bèn cứ theo di chiếu là lập Long Cán, tức là vua Cao Tông.

Tô Hiến Thành giúp vua Cao Tông trị nước, đến năm Kỷ Hợi (1179) thì mất. Sử chép rằng khi ông đau có quan Tham tri chính sự là Vũ Tán Đường, ngày đêm hầu hạ. Đến khi bà Đỗ Thái hậu (Đỗ Thái hậu là mẹ đẻ Cao Tông) ra thăm hỏi ngày sau ai thay được ông, ông tâu rằng: có quan Gián nghị đại phu Trần Trung Tá. Thái hậu ngạc nhiên nói rằng sao không cử Vũ Tán Đường? Ông đáp: “Nếu bệ hạ gọi người hầu hạ, thì tôi xin cử ngươi Tán Đường, hỏi người giúp nước thì tôi xin cử ngươi Trung Tá”.

Tô Hiến Thành không những là một nguời có tài thao lược, dẹp giặc yên dân mà thôi, cách thờ vua thật là trung thành cho nên người đời sau thường ví ông với Gia Cát Lượng đời Tam quốc bên Tàu.

Tô Hiến Thành mất rồi, triều đình không theo lời ông ấy dặn, cử Đỗ Yên Di làm phụ chính và Lý Kính Tu làm đế sư. Đình thần bấy giờ còn có nhiều người đứng đắn, cho nên bà Chiêu Linh Thái hậu không dám mưu sự phế lập.

Đến khi Cao Tông lớn lên cầm quyền trị nước, thì cứ hay đi săn bắn chơi bời, làm cung xây điện, bắt trăm họ phải phục dịch khổ sở. Ngoài biên thì quân Mường Thổ ở bên Tàu sang quấy nhiễu ở phía bắc, người Chiêm Thành sang đánh ở phía nam; trong nước thì bọn trộm cướp nổi lên như ong dấy. Vua tôi không ai lo nghĩ gì đến việc chính trị, chỉ làm những việc nhũng lạm, mua quan bán chức, hà hiếp nhân dân, lấy tiền để làm những việc xa xỉ.

2. Sự nội loạn

Năm Bính Thìn (1208) ở Nghệ An có Phạm Du, chiêu nạp những đồ vong mệnh, cho đi cướp các thôn dân, có bụng làm phản. Cao Tông sai quan Phụng ngự là Phạm Bỉnh Gi đi đánh Phạm Du. Bỉnh Gi đem quân vào đến nơi đánh đuổi Phạm Du đi và tịch biên cả của cải, đốt phá cả nhà cửa.

Phạm Du cho người về kinh, lấy vàng bạc đút lót với các quan trong triều, để vu cho Bỉnh Gi ra làm việc hung bạo, giết hại những kẻ không có tội, và Phạm Du lại xin về triều để kêu oan.

Cao Tông nghe lời, cho vời Phạm Du vào chầu và triệu Phạm Bỉnh Gi về.

Bỉnh Gi về kinh vào chầu, Cao Tông truyền bắt giam, lại toan đem làm tội. Bấy giờ có bộ tướng của Bỉnh Gi là Quách Bốc đem quân phá cửa thành vào cứu Bỉnh Gi.

Cao Tông thấy biến, bèn đem giết Phạm Bỉnh Gi đi, rồi cùng với thái tử lên mạn sông Qui Hóa (sông Thao Giang ở phía bắc huyện Tam Nông, Phú Thọ). Thái tử Sam thì chạy về Hải Ấp, làng Lưu Gia (bây giờ là làng Lưu Xá, huyện Hưng Nhân).

Bọn Quách Bốc đưa xác Bỉnh Gi ra mai táng xong rồi, lại vào điện tôn Hoàng tử Thẩm lên làm vua.

Khi thái tử Sam chạy về Hải Ấp vào ở nhà Trần Lý. Nguyên Trần Lý là người làng Tức Mạc (huyện Mỹ Lộc, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định) làm nghề đánh cá, nhà giàu, có nhiều người theo phục, sau nhân buổi loạn cũng đem chúng đi cướp phá. Đến khi thái tử Sam chạy về đấy, thấy con gái Trần Lý có nhan sắc, lấy làm vợ, rồi phong cho Trần Lý tước Minh tự và phong cho người cậu Trần thị là Tô Trung Từ, người ở làng Lưu Gia làm Điện tiền Chỉ huy sứ.

Anh em họ Trần mộ quân về kinh dẹp loạn, rồi lên Qui Hóa rước Cao Tông về cung. Cao Tông cho quân về làng Lưu Gia đón thái tử, còn Trần thị thì về ở nhà Trần Lý.

Cao Tông về kinh được một năm thì phải bệnh, đến tháng 10 năm Canh Ngọ (1210) thì mất, trị vì được 35 năm, thọ 38 tuổi.

VIII. Lý Huệ Tông (1211-1225)

Niên hiệu: Kiến Gia (1211-1224)

1. Trần Thị

Thái tử Sam lên ngôi, tức là vua Huệ Tông, rồi sai quan đi rước Trần thị về phong làm Nguyên phi.

Bấy giờ Trần Lý đã bị quân cướp giết, chúng theo về người con thứ là Trần Tự Khánh. Huệ Tông bèn phong cho Tự Khánh làm Chương Tín hầu và cho người cậu Trần thị là Tô Trung Từ làm Thái úy Thuận Lưu bá.

Năm Quý Dậu (1213) Thái hậu làm khổ Trần thị ở trong cung, anh Trần thị là Tự Khánh đem quân đến chốn kinh sư, nói rằng xin rước vua đi. Huệ Tông không biết tình ý gì, nghi Tự Khánh có ý phản nghịch bèn giáng Trần thị xuống làm Ngự nữ. Tự Khánh nghe tin ấy, thân đến quân môn xin lỗi và rước vua đi. Huệ Tông càng nghi lắm, bèn cùng với Thái hậu đi lên Lạng Châu (Lạng Sơn).

Tự Khánh lại phát binh xin rước vua như trước, Huệ Tông sợ lại rước Thái hậu về huyện Bình Hợp (?).

Khi bấy giờ bà Thái hậu cho Tự Khánh là phản trắc thường chỉ mặt Trần thị mà xỉ mắng và xui Huệ Tông bỏ đi. Huệ Tông không nghe. Thái hậu định bỏ thuốc độc cho Trần thị, nhưng Huệ Tông biết ý, đến bữa ăn thì ăn một nửa, còn một nửa cho Trần thị ăn và ngày đêm không cho đi đâu. Sau vì Thái hậu làm ngặt quá, Huệ Tông và Trần thị đêm lẻn ra đi đến nhà tướng quân Lê Mịch ở huyện Yên Duyên rồi lại đến châu Cửu Liên (?), cho đòi Tự Khánh đến chầu.

2. Quyền về họ Trần

Trần Tự Khánh đem quân đến hộ giá. Huệ Tông phong Trần thị làm Hoàng hậu, Tự Khánh làm Phụ chính và người anh Tự Khánh là Trần Thừa làm Nội thị Phán thủ. Trần Tự Khánh cùng với Thượng tướng quân là Phan Lân sửa sang quân ngũ, làm đồ chiến khí, luyện tập việc võ. Từ đấy quân thế lại nổi dần dần lên.

Huệ Tông phải bệnh, thỉnh thoảng có cơn điên, rồi cứ uống rượu say ngủ cả ngày, còn việc chính trị đều ở tay Tự Khánh quyết đoán cả.

Đến tháng Chạp năm Quý Mùi (1228) Tự Khánh mất, Huệ Tông cho Trần Thừa làm Phụ quốc Thái úy, sang năm sau lại cho người em họ Hoàng hậu là Trần Thủ Độ làm Điện tiền chỉ huy sứ. Từ đó việc gì ở trong triều cũng quyền ở Thủ Độ cả.

Huệ Tông có bệnh mãi không khỏi, mà Thái tử thì chưa có, Trần thị chỉ sinh được hai người con gái, người chị là Thuận Thiên công chúa thì đã gả cho Trần Liễu là con trưởng của Trần Thừa; còn người em là Chiêu Thánh công chúa tên là Phật Kim thì mới lên 7 tuổi, Huệ Tông yêu mến lắm, cho nên mới lập làm Thái tử. Tháng 10 năm Giáp thân (1224) Huệ Tông truyền ngôi cho Chiêu Thánh công chúa, rồi vào ở chùa Chân Giáo.

IX. Lý Chiêu Hoàng (1225)

Niên hiệu: Thiên Chương Hữu Đạo (1224-1225)

Chiêu Thánh công chúa lên ngôi, tức là vua Chiêu Hoàng. Bấy giờ quyền chính ở cả Trần Thủ Độ. Đến tháng Chạp thì Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh và truyền ngôi cho chồng.

Nhà Lý đến đây là hết, cả thảy làm vua được 216 năm, truyền ngôi được 9 đời.

Nhà Lý có công làm cho nước Nam ta trở nên một nước cường thịnh: ngoài thì đánh nước Tàu, bình nước Chiêm, trong thì chỉnh đốn việc võ bị, sửa sang pháp luật, xây vững nền tự chủ. Vì vua Cao Tông hoang chơi, làm mất lòng người, cho nên giặc giã nổi lên, loạn thần nhiễu sự. Vua Huệ Tông lại nhu nhược bỏ việc chính trị, đem giang sơn phó thác cho người con gái còn đang thơ dại, khiến cho họ Trần được dịp mà lấy giang sơn nhà Lý và lập ra cơ nghiệp nhà Trần vậy.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..