Việt Nam Sử Lược

[VNSL2] Chương III: Bắc thuộc lần thứ hai (43-544)

Chương III: Bắc thuộc lần thứ hai (43-544)

I. Nhà Đông Hán (25-220)

1. Chính trị nhà Đông Hán

Mã Viện đánh được Trưng Vương đem đất Giao Chỉ về thuộc nhà Hán như cũ, rồi chỉnh đốn binh lương, đem quân đi đánh dẹp các nơi, đi đến đâu xây thành đắp luỹ đến đấy và biến cải mọi cách chính trị trong các châu quận. Đem phủ trị về đóng ở Mê Linh (về cuối đời Đông Hán lại dời về Long Biên) và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”. Nghĩa là cây đồng trụ mà đổ thì người Giao Chỉ mất nòi.

Sử chép rằng người Giao Chỉ đi qua lại chỗ ấy, ai cũng bỏ vào chân cột đồng trụ một hòn đá, cho nên về sau chỗ ấy thành ra núi, phủ mất cả, đến bây giờ không biết cột ấy ở vào chỗ nào.

Từ đó chính trị nhà Đông Hán càng ngày càng ngặt thêm, mà những quan lại sang cai trị Giao Chỉ thường có lắm người tàn ác, tham nhũng, bắt dân lên rừng xuống bể để tìm những châu báu. Dân ở quận Hợp Phố cứ phải xuống bể mò ngọc trai khổ quá, đến nỗi phải bỏ xứ mà đi.

Triều đình thì xa, quan lại ra cai trị thì tha hồ mà tung hoành, tiếng oan ức kêu không thấu vào đâu, cho nên thường hay có sự loạn lạc, làm cho dân gian phải nhiều sự khổ sở.

2. Lý Tiến và Lý Cầm

Quan cai trị đã tàn ác, nhà vua lại bạc đãi người bản xứ. Đời bấy giờ người mình dẫu có học hành thông thái cũng không được giữ việc chính trị. Mãi đến đời vua Linh đế (168-189) cuối nhà Đông Hán mới có một người bản xứ là Lý Tiến được cất lên làm Thứ sử ở Giao Chỉ. Lý Tiến dâng sớ xin cho người Giao Chỉ được bổ đi làm quan như ở Trung Châu bên Tàu. Nhưng Hán đế chỉ cho những người đỗ mậu tài hoặc hiếu liêm được làm lại thuộc ở trong xứ mà thôi, chứ không được đi làm quan ở châu khác. Bấy giờ có người Giao Chỉ tên là Lý Cầm làm lính túc vệ hầu vua ở trong điện, rủ mấy người bản xứ ra phục xuống sân mà kêu cầu. Hán đế mới cho một người Giao Chỉ đỗ mậu tài đi làm quan lệnh ở Hạ Dương và một người đỗ hiếu liêm làm quan lệnh ở Lục Hợp. Về sau Lý Cầm làm đến quan Tư lệ Hiệu uý, và lại có Trương Trọng cũng là người Giao Chỉ làm thái thú ở Kim Thành. Người Giao Chỉ ta được làm quan như người bên Tàu, khởi đầu từ Lý Tiến và Lý Cầm vậy.

3. Sĩ Nhiếp (187-226)

Về cuối đời nhà Đông Hán triều đình không có uy quyền ra đến ngoài, thiên hạ chỗ nào cũng có loạn. Đất Giao Chỉ bấy giờ nhờ có quan thái thú là Sĩ Nhiếp cùng với anh em chia nhau giữ các quận huyện, cho nên mới được yên.

Tiên tổ nhà Sĩ Nhiếp là người nước Lỗ, vì lúc người Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, mới tránh nạn sang ở đất Quảng Tín, quận Thương Ngô, đến đời ông thân sinh ra Sĩ Nhiếp là sáu đời. Ông thân sinh tên là Sĩ Tứ làm Thái thú quận Nhật Nam, cho Sĩ Nhiếp về du học ở đất Kinh sư, đỗ hiếu liêm được bổ Thượng thư lang, vì việc quan phải cách, rồi về chịu tang cha. Sau lại đỗ mậu tài được bổ sang làm Thái thú quận Giao Chỉ.

Năm Quý Mùi (203) là năm thứ 3 đời vua Hiến đế, quan Thứ sử là Trương Tân cùng với quan Thái thú Sĩ Nhiếp dâng sớ xin cải Giao Chỉ làm Giao Châu. Vua nhà Hán thuận cho. Sau vì trong châu có lắm giặc giã. Sĩ Nhiếp mới tâu xin vua nhà Hán cho mấy anh em làm Thái thú quận Cửu Châu, quận Hợp Phố và quận Nam Hải. Sĩ Nhiếp giữ được đất Giao Châu khỏi loạn và vẫn giữ lệ triều cống như cũ, cho nên vua Hiến đế lại phong cho chức An Viễn tướng quân Long Độ đình hầu.

Sĩ Nhiếp trị dân có phép tắc, và lại chăm sự dạy bảo dân cho nên lòng người cảm mộ công đức, mới gọi tôn lên là Sĩ Vương.

Nhà làm sử thường cho nước ta có văn học là khởi đầu từ Sĩ Nhiếp. Cái ý kiến ấy có lẽ không phải. Vì rằng từ khi nhà Hán sang cai trị đất Giao Chỉ đến đời Sĩ Nhiếp đã được hơn 300 năm, người Giao Chỉ có người học hành, thi đỗ hiếu liêm, mậu tài. Vậy nói rằng đến ông Sĩ Nhiếp mới có Nho học thì chẳng sai lắm ru. Hoặc giả ông ấy là một người có văn học rồi trong khi làm quan, lo mở mang sự học hành, hay giúp đỡ những kẻ có chữ nghĩa, cho nên về sau mới được cái tiếng làm học tổ ở nước ta, tưởng như thế thì có thể hợp lẽ hơn.

II. Đời Tam quốc (220-265)

1. Nhà Đông Ngô (222-280)

Nhà Đông Hán mất ngôi thì nước Tàu phân ra làm 3 nước: Bắc Nguỵ, Tây Thục, Đông Ngô. Đất Giao Châu bấy giờ thuộc về Đông Ngô.

Sĩ Nhiếp ở Giao Châu được 40 năm, tuy thiệt có uy quyền ở cõi Giao Châu, nhưng vẫn theo lệ triều cống nhà Hán, và đến khi nhà Hán mất thì lại triều cống nhà Ngô.

Năm Bính Ngọ (226) là năm Hoàng Vũ thứ 5 nhà Ngô, Sĩ Nhiếp mất, con là Sĩ Huy tự xưng làm Thái thú. Ngô chủ là Tôn Quyền bèn chia đất Giao Châu, từ Hợp Phố về bắc gọi là Quảng Châu, từ Hợp Phố về nam gọi là Giao Châu. Sai Lữ Đại làm Quảng Châu Thứ sử, Đái Lương làm Giao Châu Thứ sử, và sai Trần Thì sang thay Sĩ Nhiếp làm Thái thú quận Giao Chỉ.

Bọn Đái Lương và Trần Thì sang đến Hợp Phố thì Sĩ Huy đem quân ra chống giữ. Thứ sử Quảng Châu là Lữ Đại mới tiến quân sang đánh dẹp, và cho người đến dụ Sĩ Huy ra hàng. Sĩ Huy đem 5 anh em ra hàng, Lữ Đại sai bắt Sĩ Huy đem chém đi, còn mấy anh em thì đem về Ngô triều làm tội.

Ngô chủ lại hợp Quảng Châu và Giao Châu lại làm một, và phong cho Lữ Đại làm Thứ sử. Lữ Đại đem quân đi đánh quận Cửu Chân có công được phong làm Giao Châu mục.

2. Triệu Ẩu

Năm Mậu Thìn (248) là năm Xích Ô thứ 11 nhà Đông Ngô, Ngô chủ sai Lục Dận sang làm Thứ sử Giao Châu.

Năm ấy ở quận Cửu Chân có người đàn bà tên là Triệu Ẩu là người ở huyện Nông Cống bấy giờ. Thuở nhỏ, cha mẹ mất cả, ở với anh là Triệu Quốc Đạt, đến độ 20 tuổi gặp người chị dâu ác nghiệt, bà ấy giết đi rồi vào ở trong núi. Bà ấy là một người có sức mạnh, lại có chí khí và lắm mưu lược. Khi vào ở trong núi chiêu mộ hơn 1.000 tráng sĩ để làm thủ hạ. Anh thấy thế mới can bà, thì bà bảo rằng: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp đường sóng giữ, chém cá tràng kình ở bể đông, quét sạch bờ cõi để cứu dân ra khỏi nơi đắm đuối, chứ không thèm bắt trước người đời cúi đầu cong lưng để làm tì thiếp người ta”.

Năm Mậu Thìn (248) vì quan lại nhà Ngô tàn ác, dân gian khổ sở, Triệu Quốc Đạt mới khởi binh đánh quận Cửu Chân, bà đem quân ra đánh giúp anh, quân sĩ của Triệu Quốc Đạt thấy bà làm tướng có can đảm, bèn tôn lên làm chủ. Khi bà ra trận thì cưỡi voi và mặc áo giáp vàng xưng là Nhuỵ kiều tướng quân.

Thứ sử Giao Châu là Lục Dận đem quân đi đánh, bà chống nhau với nhà Ngô được 5-6 tháng. Nhưng vì quân ít thế cô, đánh mãi phải thua, bà đem quân chạy đến xã Bồ Điền (nay là xã Mỹ Điền, huyện Mỹ Hoá) thì tự tử. Bấy giờ mới 23 tuổi.

Về sau vua Nam đế nhà Tiền Lý, khen là người trung dũng sai lập miếu thờ, phong là “Bật chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân”. Nay ở xã Phú Điền, tỉnh Thanh Hoá còn có đền thờ.

3. Nhà Ngô chia đất Giao Châu

Năm Giáp Thân (264) là năm Nguyên hưng nguyên niên, vua nhà Ngô lại lấy đất Nam Hải, Thương Ngô và Uất Lâm làm Quảng Châu, đặt châu trị ở Phiên Ngung; lấy đất Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam làm Giao Châu, đặt châu trị ở Long Biên. Đất Nam Việt của nhà Triệu ngày trước thành ra Giao Châu và Quảng Châu từ đấy.

Đất Giao Châu đời bấy giờ cứ loạn lạc mãi, những quan lại nhà Ngô thì thường là người tham tàn, vơ vét của dân, bởi vậy người Giao Châu nổi lên giết quan Thái thú đi rồi về hàng nhà Nguỵ.

Năm Ất Dậu (256) nhà Tấn cướp ngôi nhà Nguỵ, rồi sai quan sang giữ Giao Châu. Nhà Ngô sai Đào Hoàng sang lấy lại. Đào Hoàng được phong là Giao Châu mục. Năm Canh tý (280) nhà Ngô mất nước. Đào Hoàng về hàng nhà Tấn, được giữ chức cũ. Đất Giao Châu từ đó thuộc về nhà Tấn.

III. Nhà Tấn (265-420)

1. Chính trị nhà Tấn

Nhà Tấn được thiên hạ rồi, thấy nhà Nguỵ vì thế cô mà mất, bèn đại phong cho họ hàng và sai ra trấn các nơi để làm vây cánh cho nhà vua. Nhưng cũng vì lẽ ấy mà các thân vương thường tham danh lợi cứ dấy binh đánh giết lẫn nhau, làm cho anh em trong nhà cốt nhục tương tàn, mà ngôi vua thành ra suy nhược.

Thời bấy giờ, ở phía tây bắc có những người nhung địch thấy nhà Tấn có nội loạn, bèn lũ lượt nổi lên chiếm giữ dần dần lấy cả vùng phía bắc sông Trường Giang rồi xưng đế, xưng vương như nước Triệu, nước Tần, nước Yên, nước Lương, nước Hạ, nước Hán v.v….cả thảy trước sau đến 16 nước, gọi là loạn Ngũ Hồ (Ngũ Hồ là 5 rợ: Hung nô và rợ Yết thuộc chủng loại Mông Cổ, rợ Tiên Ti thuộc chủng loại Mãn Châu, rợ Chi và rợ Khương thuộc chủng loại Tây Tạng).

Nhà Tấn làm vua được hơn 50 năm thì mất cả đất ở phía tây bắc. Dòng dõi nhà vua lại dựng nghiệp ở phía đông nam, đóng đô ở thành Kiến Nghiệp (tức thành Nam Kinh bây giờ) gọi là nhà Đông Tấn.

Đất Giao Châu ta vẫn thuộc nhà Tấn. Những quan lại sang cai trị cũng như quan lại đời nhà Hán, nhà Ngô thỉnh thoảng mới gặp được một vài người nhân từ tử tế, thì dân gian được yên ổn, còn thì là những người tham lam độc ác, làm cho nhân dân phải lầm than khổ sở. Cũng lắm khi bọn quan lại có những người phản nghịch đánh giết lẫn nhau, làm cho trong nước cứ phải loạn lạc luôn.

2. Nước Lâm Ấp quấy nhiễu Giao Châu

Đất Giao Châu lúc bấy giờ trong thì có quan lại nhũng nhiễu, ngoài thì có người Lâm Ấp vào đánh phá.

Nước Lâm Ấp (sau gọi là Chiêm Thành) ở từ quận Nhật Nam vào cho đến Chân Lạp, nghĩa là ở vào quãng từ tỉnh Quảng Bình, Quảng trị cho đến đất Nam Việt bây giờ. Người Lâm Ấp có lẽ là nòi giống Mã Lai, theo tông giáo và chính trị Ấn Độ. Nước ấy cũng là một nước văn minh và cường thịnh ở phía nam lúc bấy giờ, nhưng không chắc nước ấy khởi đầu thành nước từ lúc nào. Sách “Khâm định Việt sử” chép rằng: Năm Nhâm Dần (102) đời vua Hòa đế nhà Đông Hán, ở phía Nam quận Nhật Nam có huyện Tượng Lâm, người huyện ấy cứ hay sang cướp phá ở quận Nhật Nam, bởi vậy vua nhà Hán mới đặt quan cai trị ở huyện ấy, để phòng giữ sự rối loạn.

Đến cuối đời nhà Hán có người huyện Tượng Lâm tên là Khu Liên giết huyện lệnh đi, rồi tự xưng làm vua, gọi là nước Lâm Ấp. Dòng dõi Khu Liên thất truyền, bởi vậy cháu ngoại là Phạm Hùng lên nối nghiệp.

Trong đời Tam Quốc, người Lâm Ấp hay sang cướp phá ở quận Nhật Nam và quận Cửu Chân, bởi vậy khi nhà Tấn đã lấy được Đông Ngô rồi, ý muốn giảm bớt quân ở các châu quận, nhưng quan Thứ sử Giao Châu là Đào Hoàng dâng sớ về tâu rằng: “Vua nước Lâm Ấp là Phạm Hùng thông với nước Phù Nam hay sang quấy nhiễu ở đất Nhật Nam, nếu lại giảm bớt quân ở Giao Châu đi, thì sợ quân Lâm Ấp lại sang đánh phá”.

Xem như vậy thì nước Lâm Ấp đã có từ đầu đệ nhị thế kỷ.

Phạm Hùng truyền cho con là Phạm Dật. Phạm Dật mất thì người gia nô là Phạm Văn cướp mất ngôi; Phạm Văn truyền cho con là Phạm Phật.

Năm Quý Sửu (353) đời vua Mục đế nhà Đông Tấn, Thứ sử Giao Châu là Nguyễn Phu đánh vua Lâm Ấp là Phạm Phật, phá được hơn 50 đồn luỹ. Phạm Phật mất, truyền ngôi lại cho con cháu là Phạm Hồ Đạt. Năm Kỷ Hợi (399) Phạm Hồ Đạt đem quân sang đánh lấy hai quận Nhật Nam và Cửu Chân rồi lại đi đánh Giao Châu. Bấy giờ có quan Thái thú quận Giao Chỉ là Đỗ Viện đánh đuổi người Lâm Ấp, lấy lại hai quận. Đỗ Viện được phong làm Giao Châu Thứ sử.

Năm Quý Sửu (413) Phạm Hồ Đạt lại đem quân sang phá ở quận Cửu Chân. Khi bấy giờ con Đỗ Viện là Đỗ Tuệ Độ làm Giao Châu Thứ sử đem binh ra đuổi đánh, chém được tướng Lâm Ấp là bọn Phạm Kiện và bắt được hơn 100 người.

Người Lâm Ấp vẫn có tính hay đi cướp phá, cứ năm ba năm lại sang quấy nhiễu ở đất Nhật Nam. Đỗ Tuệ Độ định sang đánh Lâm Ấp để trừ cái hại về sau, đến năm Canh Thân (420) cất binh mã sang đánh, chém giết tàn hại, rồi bắt người Lâm Ấp cứ hàng năm cống tiến: voi, vàng, bạc, đồi mồi, vv… Từ đó mới được tạm yên.

Dòng dõi Phạm Hồ Đạt làm vua được mấy đời lại bị quan Lâm Ấp là Phạm Chư Nông cướp mất ngôi. Phạm Chư Nông truyền cho con là Phạm Dương Mại.

Khi Phạm Dương Mại làm vua nước Lâm Ấp, thì nhà Tấn đã mất rồi, nước Tàu phân Nam triều và Bắc triều. Phạm Dương Mại lại nhân dịp đó mà sang quấy nhiễu ở Giao Châu.

IV. Nam Bắc Triều (420-588)

1. Tình thế nước Tàu

Năm Canh Thân (420) Lưu Dụ cướp ngôi nhà Đông Tấn, lập ra nhà Tống ở phía Nam. Lúc bấy giờ ở phía bắc thì nhà Nguỵ gồm được cả nước Lương, nước yên, nước Hạ. Nước Tàu phân ra làm Nam triều và Bắc triều.

Bắc triều thì có nhà Nguỵ, nhà Tề, nhà Chu nối nhau làm vua. Nam triều thì có nhà Tống, nhà Tề, nhà Lương và nhà Trần kế nghiệp trị vì.

Lúc bấy giờ ở đất Giao Châu phụ thuộc về Nam triều.

2. Việc đánh Lâm Ấp

Trong đời nhà Tống về năm Quý Dậu (433) đời vua Văn Đế, vua nước Lâm Ấp là Phạm Dương Mại thấy nước Tàu loạn lạc, bèn sai sứ sang cống nhà Tống và xin lĩnh đất Giao Châu để cai trị. Nhưng vua nhà Tống không cho.

Từ đó nước Lâm Ấp lại sang cướp phá ở mạn Nhật Nam. Vua nhà Tống bèn sai quan Thứ sử là Đàn Hoà Chi và Tông Xác làm phó tướng đem binh sang đánh Lâm Ấp. Phạm Dương Mại đem quân ra chống cự.

Đàn Hoà Chi và Tông Xác tiến quân chém được tướng, phá được thành, quân Lâm Ấp vỡ tan, Phạm Dương Mại cùng với con chạy thoát được. Đàn Hoà Chi vào Lâm Ấp lấy được vàng bạc châu báu rất nhiều. Sử chép rằng Đàn Hoà Chi lấy được một cái tượng bằng vàng mấy người ôm không xuể, đem nấu đúc được hơn 10 vạn cân. Từ đấy người Tàu biết Lâm Ấp có nhiều của, cứ chực sang lấy. Đàn Hoà Chi cũng vì của ấy mà bị gièm pha, phải cách chức đuổi về.

3. Sự biến loạn ở đất Giao Châu

Năm Kỷ Mùi (479) nhà Tống mất ngôi, nhà Tề kế nghiệp, trị vì được 22 năm thì nhà Lương lại cướp ngôi nhà Tề.

Trong đời Nam Bắc triều đất Giao Châu không được mấy khi yên ổn, vì quan Tàu sang cai trị có nhiều người thấy bên Tàu loạn lạc, cũng muốn tìm cách để độc lập, bởi vậy quan lại cứ giết lẫn nhau.

Đời nhà Lương lại sai Tiêu Tư sang làm Thứ sử Giao Châu. Tiêu Tư là một người tàn bạo, làm cho lòng người ai cũng oán giận. Bởi vậy ông Lý Bôn mới có cơ hội mà nổi lên, lập ra nhà Tiền Lý.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..