Loading

Nam – Bắc Triều (1527-1592)

Võ Thế Dinh

Thuộc hạ của Mạc Thiên Tích ở trấn Hà Tiên, tác giả, không rõ năm sinh năm mất, còn có tên khác nữa là Vi, tự Thân Vi. Ông mồ côi từ lúc lên 9 tuổi, nhờ Mạc Thiên Tích đem về nuôi. Ông từng học với Lâm Công, làm viên chức kí lục ở Hà Tiên. Ông có tài văn thơ, chính trị, lại được gần với nhóm danh sĩ Chiêu Anh Các thời ấy nên ông được họ Mạc trọng dụng và được chúa Nguyễn phong thưởng, từng làm Cai đội trấn Hà Tiên, tước Dinh Đức Hầu. Ông là tác giả sách: Mạc thị gia phả cũng gọi là Hà Tiên Hiệp trấn Mạc thị gia phả.

Trịnh Kiểm

Võ tướng, Thái sư của vua Lê Trang tông (1533-1548) tước Minh Khang Thái vương, quê làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phước (sau đổi là Vĩnh Lộc) tỉnh Thanh Hóa. Năm 1533, nhân Nguyễn Kim theo giúp vua Lê Trang tông đang hành quân ở Thanh Hóa, ông đến ra mắt được Nguyễn Kìm tin dùng trong quân ngũ. Ông giỏi việc quân sự, nhiều mưu lược lập được nhiều chiến công được Nguyễn Kim cho trông coi chức “Mã quân”, rôi được vua phong cho làm “Tướng quân”. Từ đó ông trở thành cánh tay đắc lực của Thái sư Nguyễn Kim và được Nguyễn Kim gả con gái trưởng là Ngọc Bảo cho ông. Năm 1545, Nguyễn Kim bị Dương Chấp Nhất đầu độc chết, mọi quyền hành bấy giờ đều do ông nắm giữ, vua Lê phong ông làm Đô tướng giữ chức Hữu tướng, gia phong…    read more 

Lương Văn Chánh

Danh thần, nhà doanh điền, đời chúa Nguyễn khai sáng, không rõ năm sinh, tiền hiền tỉnh Phú Yên ngày nay, nguời huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên (nay vẫn thuộc tỉnh Phú Yên). Nguyên quán ở Đàng Ngoài, buổi đầu làm quan nhà Lê tới chức Thiên Vũ Đệ Đô chỉ huy sứ. Năm Mậu ngọ 1558, ông vào Nam đầu quân dưới trướng chúa Tiên, thắng nhiều trận lớn với quân Chiêm Thành. Cùng năm ông vượt sông Đà Diễn (tức sông Đà Rằng hay sông Ba) chiếm được thành vua Chiêm (thuộc xã An Nghiệp, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên ngày nay) bình định một miền rộng lớn kéo dài đến khu vực phía Bắc núi Thạch Bi (đèo Cả). Năm Mậu dần 1578 được Đoan Quốc công (chúa Tiên) cử ông làm Biên trấn quan vùng đất mới Bình Định này. Sau chiến thắng trên, ông được…    read more 

Hoàng Đình Ái

Danh tướng đời Lê Trang tông, quê huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa). Con nhà cậu của Lương Quốc Công Trịnh Kiểm. Ông tài gồm văn võ, dũng cảm, nhiều mưu lược. Ông cùng Phạm Đốc từng chống nhau với quân nhà Mạc, được phong tước Quảng Tây Hầu. Năm Đinh tị 1557, ông làm Đô chỉ huy sứ vệ Cẩm y. Năm sau, thăng tước Vinh Quận Công, mới 33 tuổi. Càng lúc uy danh càng lừng lẫy, dẹp yên loạn Tuấn Đức Hầu Trịnh Cối, đánh tan quân đội của Mạc Kính Điển. Sang đời Lê Thế tông, ông được phong Thái phó. Quân Mạc do Mạc Kính Điển và Mạc Đôn Nhượng cầm đầu vẫn đánh phá nhiều nơi. Ông cùng Đặng Huấn dẹp yên cả. Năm Đinh sửu, ông thăng Thái uý. Sau đó, ông cả phá quân Mạc nơi Phấn Thượng (thuộc Sơn Tây), bắt…    read more 

Đỗ Uông

Danh sĩ nhà Mạc, quê xã Đoạn Tùng (sau kiêng húy chúa Trịnh Tùng, nên đổi là Đoạn Lâm), tục gọi xã Miếu Thông, huyện Gia Lộc (sau đổi Gia Phúc), tỉnh Hải Dương. Năm Bính thìn 1556, đời Mạc Phúc Nguyên, ông đỗ nhất giáp tiến sĩ, đứng hàng thứ hai (tức Bảng nhãn) lúc 23 tuổi (nhiều sách chép 34 tuổi). Năm Giáp tuất 1574, đời Mạc Mậu Hợp, ông làm Hữu thị lang bộ Binh, kiêm vương phó (thầy của các bậc vương công). Năm Mậu dần 1578, ông làm chánh sứ qua nhà Minh dâng lễ cống. Khi trở về thăng Thượng thư bộ Lại, kiêm Đông các đại học sĩ, tước Phúc Quận Công. Nhà Mạc mất, ông cùng một nhóm quan cũ nhà Mạc ra phù tá nhà Lê, được giữ nguyên chức cũ. Lại được cử đi sứ lần nữa, rồi đổi làm Thượng…    read more 

Bùi Trụ

Danh thần, lúc đầu làm quan nhà Mạc, sau qui thuận nhà Lê Trung Hưng, không rõ năm sinh, năm mất. Con Quản Quốc công Bùi Xương Trạch, anh Mai Quận công Bùi Vịnh và là chú Tiên Quận công Bùi Bình Uyên. Danh sĩ Bùi Huy Bích cũng dòng dõi họ Bùi này. Quê làng Định Công, huyện Thanh Trì, trú làng Thịnh Liệt công trong huyện ấy, thuộc tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Ông làm quan nhà Mạc đến chức Tân lí, tước Đồng Giang Hầu. Sau, ông dẫn cháu là Bùi Bình Uyên, cùng với Lê Bá Ly (nhạc phụ Bùi Bình Uyên) vào Thanh Hóa, qui thuận nhà Lê, được vua trọng dụng, làm đến Thượng thư bộ Hộ, gia phong Hiệp mưu tá lí công thần, tặng Thái phó.

Bùi Thị Lẫm

Hiền phụ, vợ Tổng binh Mạc Cửu, mẹ ruột danh sĩ Tổng binh Đại đô đốc Mạc Thiên Tích, quê ở Long Thành, dinh Trấn Biên (Biên Hòa) nay thuộc tỉnh Đồng Nai. Thuở trẻ bà rất chăm lao động, theo gia đình lưu lạc nhiều nơi, sau cùng gia đình sang lập nghiệp ở Trủng Kè (cảng Ream-Campuchia) gần Kompongsom. Gặp lúc quân Xiêm (Thái Lan) sang đánh phá Hà Tiên, bắt Mạc Cửu định đưa về nước họ. Trong cơn nguy khốn, Mạc Cửu trốn thoát, lần tránh ở Trủng Kè, được bà cứu giúp. Nhân đó, bà trở nên vợ thứ của ông (vợ chánh của ông người Trung Quốc). Một thời gian sau, vợ chồng bà về tại Hà tiên gây dựng lại sự nghiệp, rồi xin thần phục chúa Nguyễn, triều đình chúa Nguyễn phong Mạc Cửu làm Tổng binh cai quản đất Hà Tiên….    read more 

Bùi Bỉnh Uyên

Danh thần đời Lê Trung tông, tự Chuyết Phu, quê làng Định Công, huyện Thanh Đàm, tỉnh Hà Đông (nay thuộc tỉnh Hà Tây), ông là cháu Quảng Quốc công Bùi Xương Trạch, con Mai Lĩnh hầu Bùi Vịnh. Ông nổi tiếng anh tài, đi thi Hương đỗ tam trường, rồi nhân có tang, không thi cử nữa, được Lê Bá Ly tri ngộ gả con. Năm Thuận Bình 1 (Kỉ dậu 1549), ông đã 29 tuổi, cùng với bác là Bùi Trực đem cả họ vào ở Thanh Hóa, rồi cùng cha vợ là Lê Bá Ly vào chầu Lê Trung tông được trọng dụng. Đời Anh tông, khoảng năm Chính Trị (1558-1571), vinh phong Tuyên lực công thần. Đời Thế tông, năm Quang Hưng 14 (Tân mão 1591) gia phong Thần tín công thần, lịch nhậm Phủ doãn Phụng Thiên và Thị lang bộ Hình, bộ Hộ. Năm…    read more 

Phạm Thiệu

Nhà văn đời Mạc, Quê gốc ở làng Châu Khê, huyện Quế Dương, cư ngụ tại làng Dũng Liệt, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Bắc Ninh). Năm Quí sửu 1553 đời Mạc Phúc Nguyên, ông đỗ Hoàng giáp, nổi tiếng văn chương, giỏi việc chính trị, giúp nhà Mạc đắc lực trong việc tổ chức hành chánh, mở mang văn hóa. Ông từng được cử đi sứ nhà Minh (Trung Quốc), làm đến Thượng thư, tước Hầu. Khi về hưu, ông được tặng hàm Thái bảo. Ông là tác giả bộ sách Thi vận tập yếu. Bộ Thi vận tập yếu (2 quyển) do ông biên soạn. Sách là một cuốn tự điển về âm vận dùng trong phép làm thơ, xếp theo vần Trung Quốc. Bộ này ông viết phỏng theo một bộ sách có nhan đề tương tự gồm 5 quyển của Lý Phan Long đời Minh.

Phạm Đại Kháng

Văn thần nhà Mạc, không rõ năm sinh, năm mất, quê làng An Chế, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Năm Nhâm thìn 1592, đời Mạc Mậu Hợp, ông đỗ tiến sĩ, hết lòng giúp nhà Mạc cố sức thu phục nhân tâm. Làm đến Giám sát Ngự sử, ông có tính cương trực, liêm chính. Nhà Lê cho người lên tiếp xúc với ông thuyết phục ông qui thuận, ông cương quyết từ chối một mực trung thành với nhà Mạc. Nhà Mạc đến giai đoạn này là cuối cùng, sự sụp đổ không sao chống đỡ nổi nữa. Ông vẫn một lòng phục vụ họ Mạc, đến khi Mạc Mậu Hơp bị bắt giết, ông cũng tự tử chết theo.

Phạm Duy Quyết

Danh sĩ nhà Mạc, có sách chép là Phạm Duy Trĩ, quê làng Xác Khê (có sách chép Hùng Khê), huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Tương truyền ông rất thông minh, nhưng thuở trẻ thất học, đến lúc ngoài 30 tuổi mới quyết chí cầu học để lập thân danh. Thầy học của ông là Trần Văn Phạm và Nguyễn Khắc Kính đều khen ngợi, dạy bảo ân cần. Đến khoa Nhâm tuất 1562 ông cùng thầy học Nguyễn Khắc Kính ra thi, ông đỗ trạng nguyên lúc 41 tuổi, còn Nguyễn Kính đỗ hoàng giáp. Ông một lòng với nhà Mạc, còn thầy học thì ít lâu qui thuận nhà Lê. Sau, ông làm đến Tả thị lang, Đại học sĩ Đông các tước Xác Khê Hầu (có sách chép Hàng Khê Hầu).

Nguyễn Thiến

Danh sĩ đời Mạc, hiệu Cảo Xuyên, quê làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay thuộc TP. Hà Nội). Năm Nhâm thìn 1532, ông đỗ nhất giáp tiến sĩ (Hội nguyên) làm quan với nhà Mạc đến Thượng thư bộ Lại kiêm Đô ngự sử. Về sau ông làm việc với triều Lê, được phong tước Thư Quận Công. Ông là bạn thân với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, đỗ trước Nguyễn Bỉnh Khiêm một khoa, con ông là Nguyễn Quyện, học trò Trạng Trình cũng xuất sắc trong lịch sử. Trong Bạch Vân am thi tập còn ghi lại nhiều thơ của ông. Năm Đinh Tị 1557 ông mất thọ 62 tuổi. Tương truyền khi ông cùng với hai người con sắp bỏ nhà Mạc theo nhà Lê, Nguyễn Bỉnh Khiêm có gởi ông một bài thơ có nhiều câu cảm khái. Nhưng sau đó ông…    read more 

Nguyễn Phong

Danh thần nhà Mạc, quê làng Kiệt Đặc (làng Dọc) huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay thuộc tỉnh Hải Dương). Năm Mậu thìn 1568, ông đỗ tam giáp đồng tiến sĩ, 25 tuổi, làm quan đến Thị lang bộ Lễ, tước Cần Ý Hầu. Khi nhà Mạc mất, ông cùng người bạn đồng hương là Nghiêm Sơn Hầu Nguyễn Doãn Khâm ở ẩn trong núi Huyền Đinh không cộng tác với nhà Hậu Lê. Sau học trò ông là Nguyễn Thật làm Thượng thư nhà Lê tiến cử ông với triều đình, vua Lê sai sứ đến triệu thỉnh. Ông ra làm Thượng thư bộ Hình, sau khi về hưu, được phong tước là Toàn Quận Công. Năm Ất sửu ông mất, thọ 82 tuổi. Khoảng đời trí sĩ, ông có bài thơ tự bạch: “Nhất hồ sơn thủy, nhất ti am, Thảo mộc ngư long nhất nhị tam. Thiên…    read more 

Nguyễn Dữ

Danh sĩ đời Mạc, không rõ năm sinh, năm mất. Con vị tiến sĩ Nguyễn Tường Phiêu, quê xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, tỉnh Hải Dương (nay thuộc thôn Đỗ Lâm, xã Phạm Kha, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương). Ông là học trò Nguyễn Bỉnh Khiêm, bạn thân thiết với Phùng Khắc Khoan Khi thi đỗ làm quan với nhà Mạc, rồi về với nhà Lê làm Tri huyện Thanh Tuyền (nay là Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phú), nhưng không bao lâu ông bất mãn thời cuộc chán chường công danh, lui về ở ẩn nơi núi rừng Thanh Hóa. Trong thời gian ở ẩn ông viết bộ truyện Truyền kì mạn lục (ghi chép những chuyện lạ còn lưu truyền tản mạn trong dân gian) bằng chữ Hán. Truyện được Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nhuận chính và Nguyễn Thế Nghi sống cùng thời dịch ra chữ…    read more 

Nguyễn Bỉnh Khiêm

Danh sĩ, tác giả đời Mạc, tự Hanh Phủ, hiệu Bạch Vân cư sĩ. Còn có tên khác là Văn Đạt, con vị cư sĩ Nguyễn Văn Định, đạo hiệu Cù Xuyên; mẹ ông là con gái quan thượng thư Nhữ Văn Lan, cũng là người xuất thân đại khoa. Quê ở làng Trung Am. huyện Vĩnh Lại (sau đổi là Vĩnh Bảo), tỉnh Hải Dương. Năm Ất mùi 1535 ông đỗ Nhất giáp tiến sĩ đệ nhất danh (Trạng nguyên) lúc 44 tuổi. Các kì thi Hương, Hội, Đình ông đều đỗ đầu, làm quan đến Tả thị lang bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ. Ở triều chỉ 8 năm, ông xin về trí sĩ (Nhâm dần 1542), làm nhà ở làng gọi là Bạch Vân am, do đấy có hiệu là Bạch Vân cư sĩ. Rồi mở trường dạy học bên cạnh sông Hàn chảy qua…    read more 

Ngô Cảnh Hựu

Danh tướng đời Lê Trang tông, không rõ năm sinh, năm mất chính thức. Con Tổng binh Nghệ An Vĩnh Lộc Hầu, quê làng Trảo Nha, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Năm Đinh hợi 1527, Mạc Đăng Dung cướp quyền vua. Ông không phục tùng nhà Mạc, lui về quê nhà tập họp dân chúng, lập dinh trại, chứa lương thực khí giới, quyết kế chống cự. Khi nghe tin Trang tông nhà Lê lên ngôi, mưu đồ khôi phục cơ nghiệp, ông nhiệt liệt hưởng ứng. Sau nhiều lần lập công to, ông được phong Chinh Tây đại tướng, tước Thể Quận Công.

Mạc Phúc Nguyên

Vua đời thứ tư nhà Mạc, con trưởng Phúc Hải. Năm Bính ngọ 1546, tháng 5 ông được đưa lên ngôi, hãy còn nhỏ tuổi, có ông chú là Khiêm vương Kính Điển phụ chính. Tứ Dương Hầu Phạm Tử Nghi bất mãn, lập phe nhóm tôn phù Mạc Chính Trung (con Đăng Dung) đối lập với Phúc Nguyên. Nội bộ nhà Mạc rối ren một lúc, nhờ Kính Điển dẹp tan được nhóm Tử Nghi mới yên, nhưng phải thường xuyên chống nhau với nhà Lê. Năm Giáp tí 1564, ngày 7 tháng 2 ông bị bệnh đậu mất, ở ngôi 19 năm, tôn thụy là Tuyên tông Anh nghị hoàng đế.

Mạc Phúc Hải

Vua đời thứ ba nhà Mạc, con trưởng Mạc Đăng Doanh, được lập làm thái tử, nối ngôi vào năm Tân sửu 1541. Triều đại ông, văn nhờ có Mạc Ninh Bang, Trần Phỉ, Mạc Đình Khoa, võ nhờ có hai cha con Nguyễn Thiến, Nguyễn Quyện, bốn cha con Nguyễn Kính, Nguyễn Mệnh (tức Mạc Hữu Mệnh), Nguyễn Liễn (tức Mạc Ngọc Liễn) và Nguyễn Lập (tức Mạc Lập Bạo) nên vẫn đứng vững trước những đợt tấn công dữ dội của binh tướng nhà Lê. Ông ở ngôi chỉ được 6 năm thì mất trong năm Bính ngọ 1546, tôn thụy hiệu là Hiến tông Hiển hoàng đế. Con là Phúc Nguyên nối ngôi.

Mạc Ninh Bang

Văn thần nhà Mạc, họ tên chính của ông là Nguyễn Bính Đức (có sách chép là Thừa Đức) trước làm quan nhà Hậu Lê, sau theo nhà Mạc được ban theo họ vua nên đổi là Mạc Ninh Bang. Quê làng Thịnh Quang, xã Quảng Đức, (huyện Từ Liêm, Hà Đông, nay thuộc Hà Nội). Năm Giáp tuất đời Lê Tương Dực, ông đỗ tiến sĩ, 21 tuổi. Buổi đầu làm quan nhà Lê, giao du thân thiết với Mạc Đăng Dung. Đến khi Đăng Dung cướp ngôi vua lập nhà Mạc (Đinh hợi 1527) ông phù tá nhà Mạc, tước Khánh Khê Hầu. Năm Bính thân 1536 đời Mạc Đăng Doanh, ông giữ chức Thẩm đoán từ tụng, tra xét các ân lệ rất phân minh, xử lí công bằng. Ông giỏi việc chính trị, giúp nhà Mạc đắc lực về hành chánh, tư pháp, được tấn phong Nhất phủ đặc tấn…    read more 

Mạc Ngọc Liễn

Danh tướng nhà Mạc, họ tên chính của ông là Nguyễn Liễn, vì được cho theo họ vua, nên ông đổi là Mạc Ngọc Liễn. Ông cùng hai thân vương nhà Mạc là Kính Điển và Đôn Nhượng là bộ ba rường cột chống đỡ vững vàng cho ba triều: Phúc Hải, Phúc Nguyên, Mậu Hợp. Ông trải thân chống nhau với quân nhà Lê hơn trăm trận, công lao rất nhiều, được phong tước Ngạn Quận Công, chức Thiếu bảo. Đến năm Bính tuất 1586 đời Mạc Mậu Hợp, ông được phong là Trung quân Tả đô đốc Chưởng phủ sự, hàm Thái Bảo, tước Đà Quốc Công. Đến thời Mạc Kính Cung, mặc dù tuổi đã cao, ông vẫn hết lòng phù tá. Năm Giáp ngọ 1594, tháng 5 âm lịch ông được phong Thái phó, đem quân chiếm giữ núi Yên Tử, đánh phá vùng Vĩnh Lại….    read more 

Hỗ trợ