[23]-Pháp đô hộ (1883-1945)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Trần Văn Cận

Tên khác Nghiễn Nông – Miện Hải – Trần Trọng Bỉnh – Hổ Văn – Nguyệt Phương
Năm sinh Mậu Ngọ 1858 – Mậu Dần 1938
Tỉnh thành Hải Dương
Thời kì – Pháp đô hộ (1883-1945)

Danh y cận đại, tự Nghiễn Nông, hiệu Miện Hải. Ông còn có bút hiệu là Trần Trọng Bỉnh, tự Hổ Văn, hiệu Nguyệt Phương, quê làng Từ Ô, huyện Thanh Miện (sau đổi là thôn Từ Ô, xã Tân Trào) tỉnh Hải Dương.

Xuất thân trong một gia đình Nho học truyền thống, dòng dõi Trần Văn Trứ (tiến sĩ triều Lê). Năm Giáp ngọ 1894 ông thi đỗ cử nhân, không ra làm quan. Ông sinh sống tại quê nhà làm người hay chữ ở nông thôn dạy học và nghiên cứu thuốc.

Từ đó ông có biệt danh là Trần Trọng Bỉnh hiệu Nhâm Ngọc.. Con trai ông là học giả Trần Văn Giáp, cháu nội là tiến sĩ kinh tế Trần Văn Minh, Trần Văn Kiện.

Năm 1938, ông mất, thọ 80 tuổi, Các tác phẩm chính của ông:

Nam Bang thảo mộc (ghi chép hơn 100 cây thuốc Nam)
Thúy Sơn thi tập
Văn uyển kim hữu
Quốc triều thi lục

Quốc triều thi lục (6 quyển) do ông biên soạn. Sách còn ở dạng chép tay quyển Bổ di nay đã thất lạc nay chỉ còn 5 quyển. (Theo GS Trần Văn Giáp).

Đầu sách có bài Tiểu dẫn của tác giả nói rõ mục đích và phương pháp biên soạn. Sách này viết vào năm 1929 (Bảo Đại thứ tư) và bài Tựa của Nguyễn Doãn Thạc viết năm 1933.

Theo các bài Tiểu Dẫn, bài TựaMục lục thì sách ghi lại được hơn 1700 bài thơ của hơn 100 tác giả từ đầu đời Gia Long (1802) đến đời Bảo Đại (1929).

Các bài thơ trong sách này chưa được tuyển vào sách khác.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..