[22]-Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Trần Bích San

Tên khác Hy Tăng – Vọng Nghi – Mai Nham
Năm sinh Mậu Tuất 1838 – Đinh Sửu 1877
Tỉnh thành Nam Định
Thời kì – Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)

Danh sĩ đời Tự Đức, được vua Tự Đức tặng tên là Hy Tăng (Ví như Vương Tăng đời Tống), tự Vọng Nghi, hiệu là Mai Nham. Ông là con cụ Phó bảng Trần Đình Khanh tức Trần Doãn Đạt, quê xã Vị Xuyên, huyện Mĩ Lộc, tỉnh Nam Định.

Năm Giáp tí 1864, đỗ Giải nguyên năm 1865 đỗ Hoàng giáp, ông liền trúng Tam nguyên, nên người thường xưng tụng là Tam nguyên Vị Xuyên.

Ông làm quan trải qua các Bộ và Các trong triều, từng làm Tuần phủ Hà Nội vua triệu về kinh để đi sứ Pháp, nhưng chưa kịp khởi hành thì ông mất trong năm Đinh sửu 1877 hưởng dương 39 tuổi.

Sau khi mất, được thăng hàm Tham tri.

Ông từng đi sứ Trung Quốc năm Canh ngọ 1870, thu hoạch nhiều kết quả. Chuyến đi sứ Pháp không thành vì ông mất đột ngột.

Chí sĩ Phạm Văn Nghị viếng ông:

“Tài ngộ như kim hữu kỉ nhân,
Điều canh trực nghĩ Tống danh thành.
Nhất tâm đoạn thiết duy ưu quốc,
Vạn lí phù sà càm ái thân,
Sinh dã hữu nhai tùy tạo hóa,
Tử nan minh mục trọng quân thần.
Hoàn danh hoàn cuộc ninh tu thuyết,
Tráng ngã sơn hà khí vị nhân.”

Bản dịch:

Tài ngộ xưa nay được mấy ai?
So cùng tướng Tống kém chi người.
Một lòng son sắt luôn lo nước,
Muôn dặm bể khơi dám tiếc đời.
Sống chỉ có chừng, quyền tạo hóa.
Chết khôn nhắm mắt, nghĩa vua tôi.
Vẹn danh, tròn cuộc không cần nói
Khí mạnh non sông chữa chút vơi.

Các tác phẩm chính của ông có:

Thanh Tâm tài nhân quốc âm thi
Nhân sự kim giám
Mai Nham thi thảo
Gia huấn ca

Mai Nham thi thảo là tập thơ ông sáng tác trong hành trình sống và hoạn lộ của mình. Trong tập có nhiều bài thơ thành “kinh ngữ” của thơ chữ Hán vào thời cận đại.

Bài Quá Hải Vân sơn không những có những thi ảnh vượt thời gian mà còn như là một tuyên ngôn về nghệ thuật phương pháp cũng như quan niệm sống và viết của văn thi sĩ nữa.

Tương truyền lúc ông vào nhậm chức tri phủ phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, lúc đi ngang đèo Hải Vân, ông tức cảnh bài thơ có nhan đề:

Quá Hải Vân sơn
“Tam niên lam thưởng Hải Vân đài,
Nhất điểu thân khinh độc vãn hồi.
Thảo thụ bán không đê nhật nguyệt,
Càn khôn chích nhãn tiều trần ai.
Văn phi sơn thủy vô kì khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài.
Hưu đạo Tần quan chinh lộ hiểm,
Ma đầu hoa tận đới yên khai.”
(Mai Nhan thi thảo)

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương dịch:

Ba năm vượt ải đã bao lần,
Nhẹ cánh chim trời dạo Hải Vân
Ngắm rộng kiền khôn coi cũng bé,
Lên cao nhật nguyệt tưởng đâu gần!
Gió sương như búa tài thêm chuốt,
Hồ biển làm nghiên bút mới thần.
Đầu ngựa rừng hoa chen khói nở.
Cười ai khen hiểm lối sang Tần.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..