[22]-Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Tô Trân

Năm sinh Tân Hợi 1791 -…
Tỉnh thành Bắc Ninh
Thời kì – Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)

Danh thần, sử gia đời Minh Mạng, Tự Đức; quê xã Hoa Cầu (sau đổi là Xuân Cầu), huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh.

Năm Bính tuất 1826, ông đỗ tiến sĩ làm Tuần phủ tỉnh Định Tường. Khi thành mất vì giặc Pháp, ông bị cách chức. Sau được khai phục, thăng Hữu tham tri bộ Lễ, Toản tu Quốc sử quán rồi về hưu.

Lúc mất thành Định Tường, ông bỏ nhiệm sở và làm một bài thơ tỏ chí:

“Dục bãi bất năng chử vũ dương,
Phân điền, phân thổ bất phân vương.
Gia ưng hữu thất hà tu thỉ.
Lễ bất cầu phong chỉ dụng dương.
Đạt đắc chúng nhân suy hạnh xuất.
Thao tồn nhất thủ tự vô đương.
Ngư du thảo hạ hòa biên ổn.
Ngọc chẩn di xa tụy nhất đường.”

Bản dịch:

Muốn thôi, cánh liệng, chẳng cho thôi,
Xẻ đất, quyền vương chẳng xe đôi.
Không lợn, đã nhà nề nếp sẵn,
Có dê chưa hậu, lễ nghi rồi.
Nhiều người khen đạt mình may thoát,
Còn một tay thao việc khó trôi!
Cá tựa lúa êm bơi dưới cỏ,
Xe về nhà ngọc họp đầy vơi.

Bài thơ chữ Hán trên, ngoài ý từ biệt tỉnh Định Tường về quê nghỉ, tác giả đã có tài xuất sắc là dùng tám câu thơ, mỗi câu tả tự dạng một chữ, có trật tự rõ ràng, thành tám chữ Thư lí Định Tường Tuần phủ Tô Trân (nghĩa là tạm quyền chức Tuần phủ tỉnh Định Tường Tô Trân). Mỗi câu về cách tả tự dạng chiết tự của mỗi từ đề trình bày rõ ý nghĩa cả câu. Đây là một bài thơ vừa có nghệ thuật hội họa, vừa có giá trị nghệ thuật thơ.

Các tác phẩm của ông có:

Minh Mạng chánh yếu
Đại Nam thực lục chánh biên
Bắc hành tập

Đại Nam thực lục (chính biêntiền biên) (560 quyển) do ông và một số sử gia thuộc Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn bắt đầu từ Thái tổ Gia Dũ hoàng đế (Nguyễn Hoàng 1558) đến năm Cảnh Hưng thứ 38 (1777).

Phần chính biên gồm 66 quyển chép các sự việc từ đời vua Gia Long (1802) đến năm Đồng Khánh cộng tất cả 7 đời vua mỗi đời một kỉ, cộng 7 kỉ (kể cả kỉ dẫn nhập).

Q 1: Đệ nhất kỉ (đời Gia Long).

Q 2: Đệ nhị kỉ (đời Minh Mạng).

Q 3: Đệ tam kỉ (đời Thiệu Trị).

Q 4: Đệ tứ kỉ (đời Tự Đức). Q 5: Đệ ngũ kỉ (cuối đời Tự Đức – Kiến Phước).

Q 6: Đệ lục kỉ (đời Hàm Nghi, Đồng Khánh).

Ông (Tô Trân) giữ chức Toản tu và trực tiếp biên soạn kỉ thứ nhất và kỉ thứ hai, kỉ thứ ba dưới quyền của Tổng tài Phan Thanh Giản.

Đây là một bộ sử quan trọng và vĩ đại nhất của triều Nguyễn được tổ chức biên soạn công phu và có phương pháp từ trước đến đương thời.

Ngoài ra ông còn trực tiếp biên soạn bộ Minh Mạng chánh yếu trong đời vua Minh Mạng.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..