[23]-Pháp đô hộ (1883-1945)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Phan Điện

Năm sinh Ất Hợi 1875 – Ất Dậu 1945
Tỉnh thành Hà Tĩnh
Thời kì – Pháp đô hộ (1883-1945)

Dật sĩ, thi sĩ thường gọi là Cô Điện hay Đầu Xứ Điện (vì đỗ đầu xứ). Quê làng Tùng Ảnh, huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (nay vẫn thuộc tỉnh Hà Tĩnh) cư ngụ và sinh sống tại tỉnh Hà Đông (nay thuộc ngoại thành Hà Nội).

Xuất thân trong một gia đình khoa bảng lâu đời tại đất Nghệ Tĩnh, hậu duệ Tiến sĩ Phan Tam Tĩnh (1861 -…) một danh thần triều Minh Mạng, anh em đồng tộc với Phan Trọng Mưu, Phan Huy Nhuận là những bậc đại khoa, chí sĩ đương thời. Từng theo nghĩa quân Phan Đình Phùng chống Pháp ở Vụ Quang.

Ông thuộc hàng nhà Nho Nghệ Tĩnh vừa duy tân vừa thủ cựu, chống đối chế độ bảo hộ Pháp, ghét triều Nguyễn bất lực để mất nước. Với nỗi lòng ấy, ông đã đặt tên cho hai người con trai là Phan Anh và Phan Mỹ là hai trí thức cách mạng hồi trước 1945 để nói lên nỗi lòng mình và kí thác tâm tư.

Sau cuộc khủng bố nghĩa quân Phan Đình Phùng (bởi Nguyễn Thân) ông bỏ đất Hà Tĩnh ra Bắc (Hà Đông) mưu sinh bằng nghề dạy học. Ông thường tỏ nỗi bất bình của mình trước bọn xu phụ thực dân, bọn tay sai bán nước nên cuộc đời cũng như thơ văn ông tượng trưng cho tinh thần trí thức chống đối cường quyền đang lộng hành trong xã hội.

Nguyên ở ấp Thái Hà (Hà Nội) nhân dân địa phương xây đền Trung liệt thờ các trung thần liệt sĩ như Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Nguyễn Cao… Khi Hoàng Cao Khải về hưu ở ấp Thái Hà, y lập tâm đổi tên Trung liệt ra Trung lương (trung thần và lương tướng) để có thể bắt dân thờ cả mình (HCK) nữa. Nhân việc này, Phan Điện có đề vào tường đền bài thơ châm biếm chua cay, hiểm hóc:

Các cụ liều thân bỏ chiến trường
Ai đem Trung liệt đổi Trung lương.
Thờ bên trung trực bên gian nịnh.
Thế cũng đền đài cũng khói hương!
Thơm thúi lẫn nhau mùi tắc họng,
Ngọt ngào đầu miệng lưỡi không xương.
Nhà Nho lại có thằng nào đó?
Luồn cúi vào ra nịnh cụ Hoàng!

Con trai Hoàng Cao Khải là Hoàng Mạnh Trí làm quan theo Tây đến chức tổng đốc Nam Định, tính nghiêm khắc, ác độc. Lúc đang tại chức y từng phạt đánh em rể, phạt tiền ông thông gia. Về hưu ở làng đối với thân hào nhân sĩ cũng cay độc, có lúc ông ta cáu gắt đòi đốt cả Văn thánh, chửi bới đại khoa (vì y không có Phó bảng, tiến sĩ)… Phan Điện, khi ở Hà Đông về thăm quê Hà Tĩnh, nghe kể chuyện làng. Vả lại trước đó từng biết lúc làm quan Mạnh Trí vì không biết tiếng Pháp cho nên “cụ tổng đốc” rất sợ các quân Tây, ông (PĐ) có bài thơ nhạo gay gắt:

Điện ở Hà Đông mới lại nhà,
Nghe đồn cụ lớn thật chua ngoa.
Lửa tâm dọa đốt tòa Văn thánh,
Xuổng miệng toan đào mã Đại khoa.
Ba chục thí cho con bố vợ,
Bảy mươi dành phạt cụ thông gia
Đã hay Cụ lớn thường hay quấu.
Quấu được Tây đau mới gọi là.

(Tây đau nói láy thành Tau đây: lời khinh mạn).

Con người và thơ văn Phan Điện quyện lẫn vào nhau tạo nên một mẫu người đặc biệt như có người từng nghĩ về ông: “Phan Điện là một nhân vật phản ảnh vừa một thời đại chính trị, vừa một địa vực rất độc đáo của đất Hà Tĩnh… lúc triều đình nhà Nguyễn để Tây hoàn toàn chiếm nước và nô lệ nhân dân ta”. (Hoàng Xuân Hăn).

Ông là tác giả nhiều thi phẩm còn ở dạng bản thảo được truyền tụng nhiều (Phần lớn nay đã thất lạc, gần đây con cháu ông sưu tầm in lại một tập thơ có tên: Thơ ông nội và thơ Bọ tức thơ Phan Điện và Phan Anh).

Ông mất năm 1945 tại quê nhà (Hà Tĩnh) thọ 70 tuổi.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..