[23]-Pháp đô hộ (1883-1945)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Phan Bội Châu

Tên khác Phan Văn San – Sào Nam – Hải Thu – Thị Hán – Độc Tĩnh Tử – Hãn Mạn Tử
Năm sinh Đinh Mão 1867- Canh Thìn 1940
Tỉnh thành Nghệ An
Thời kì – Pháp đô hộ (1883-1945)

Chí sĩ, Danh sĩ nguyên tên là Phan Văn San sau đổi tên là Bội Châu hiệu Sào Nam và nhiều biệt hiệu khác: Hải Thu, Thị Hán, Độc Tĩnh Tử, Hãn Mạn Tử… Con ông Phan Văn Phổ và bà Nguyễn Thị Nhàn, sinh ngày 1-12 Đinh mão (26-12-1867). Quê làng Đan Nhiễm, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay là xã Nam Hòa, Nam Đàn, tỉnh Nghệ An).

Ông nổi tiếng thông minh từ nhỏ, năm 1900 đỗ Giải nguyên trường thi Nghệ An, nhiệt tình yêu nước, ngay từ năm 17 tuổi đã hưởng ứng phong trào Cân vương, ông đã viết bài hịch Bình Tây thu Bắc rồi cùng bạn là Trần Văn Lương thành lập đội “Sĩ tử Cần vương” ở quê nhà. Từ sau khi đỗ Giải nguyên, ông càng dốc tâm trí lo việc cứu nước, giao kết với chí sĩ khắp nơi. Năm 1904 vận động thành lập hội Duy tân, năm sau cùng Tăng Bạt Hổ sang Trung Quốc, rồi Nhật Bản để gây dựng phong trào Đông du. Năm 1908, bị trục xuất khỏi Nhật, ông trở lại Trung Quốc, rồi sang Thái Lan xây dựng căn cứ hoạt động ở nước ngoài.

Sau cách mạng Tân hợi 1911 ông trở lại Trung Quốc thành lập Hội Việt Nam Quang Phục và Hội Chấn Hoa Hưng Á. Năm 1911 ông bị Long Tế Quang bắt giam ở Quảng Châu. Ra tù, ông càng tích cực hoạt động. Năm 1922 cải tổ Hội Việt Nam Quang Phục thành Đảng Việt Nam Quốc dân.

Đến năm 1926 ông bị tay sai Pháp bắt cóc tại Thượng Hải, giải về nước. Chúng định thủ tiêu kín, nhưng việc bại lộ phải đưa ra xử trước Hội đồng đề hình của chúng, kết án khổ sai chung thân. Nhân dân toàn quốc đấu tranh đòi ân xã cho ông. Toàn quyền Varenne buộc lòng ra lệnh ân xá nhưng phải an trí tại Huế (Bến Ngự). Từ đó ông không còn hoạt động chính trị gì được nữa, chỉ còn niềm an ủi được nhân dân vẫn hướng lòng tôn kính với biệt danh “Ông già Bến Ngự”.

Trong đời ông, có sự lầm lơ đáng tiếc là viết bản thư nêu chính kiến “Pháp Việt đề huề”, mà chính ông cũng tỏ ra ân hận. Khoảng năm 1924 ông cũng từng tiếp xúc với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh) và toan theo đường hướng xã hội chủ nghĩa, nhưng chưa kịp thi hành gì đã bị chúng bắt cóc, rồi quản thúc tại Bến Ngư (Huế).

Thơ văn ông phổ biến sâu rộng trong quần chúng. Sách báo viết về ông rất nhiều ông là tác giả nhiều tác phẩm văn học yêu nước, cách mạng đóng góp phong phú cho nền văn học Việt Nam. Gồm:

Tự phán hay Phan Bôi Châu niên biểu
Lưu cầu huyết lệ tân thu
Việt vong thảm trạng (Thảm trạng Việt Nam mất nước)
Quốc hồn lục
Bình Tây thu Bắc
Nhân đạo hồn
Dư chi phúc âm
Dũ ngu sấm
Việt Nam nghĩa liệt
Hà thành nhị liệt truyện
Hải ngoại huyết thư
Giác quần thư.
Việt Nam vong quốc sử
Nam quốc dân tu tri.
Chu Dịch quốc âm giải
Phan Sào Nam tiên sinh quốc văn thi tập
Việt Nam quốc sử khảo
Nữ quốc dân tu tri.
Khổng học đăng
Sào Nam văn tập.
Ngục trung thư
Trùng Quan tâm sử
Xã hội chủ nghĩa…

Và các tiểu truyện:

Trần Đông Phong truyện
Hoàng Phan Thái truyện
Hà Thành liệt sĩ truyện
Ngư Hải ông liệt truyện (truyện Đặng Thái Thân)
Tiểu La tiên sinh liệt truyện (truyện Nguyễn Thành)
Tước Thái thiền sư (truyện ông Thầy Rau)
Chân tướng quân (truyện Hoàng Hoa Thám)
Phạm Hồng Thái truyện

Khi còn sống, ông được luật sư Bona (người Pháp) xưng tụng:

Cụ Phan (Phan Bội Châu) là người quả không hổ là kẻ ái quốc, ái quần chân chính. Dầu tôi là người Pháp đối với cụ Phan tôi cũng phải ngưỡng mộ. Tôi ngưỡng mộ là ngưỡng mộ cái thân thế quang minh, cái tinh thần cao thượng, cái nghị lực bất di, bất khuất đã chứng tỏ ra trong việc làm của cụ.

Ngày 29-10-1940, ông mất tại lều tranh Bến Ngự, Huế, thọ 73 tuổi.

Bài hịch bình Tây hiến quốc (hay …thu Bắc). Bài này viết lúc phát ra Âu châu đại chiến, “còn các bài ngắn thì bây giờ đầu đề đều không thấy… ” (Tự phê phán, tr. 182). Theo cụ thì “Trong khoảng năm Canh thân, Tân dậu (1920-1921)… những việc trước tác không bao giờ quên. Lúc nào tiền tiêu không có thì lại bán chữ để làm kế sinh nhai”. Những bài đăng ở các báo và tạp chí Trung Hoa, như báo Đông Á tân văn ở Bắc Kinh, tạp chí Quân sự ở Hàng Châu, có nhiều bài của cụ, nhưng chỉ viết vì sinh kế chứ không phải là tác phẩm chính. Duy có mấy cuốn sau đây là đáng chú ý:

Cuốn Dư chí phúc âm gồm 12 chương lớn, lời lẽ trong sách toàn là để dạy bảo cảnh tỉnh quốc dân.

Cuốn Việt Nam nghĩa lịch sử.

– Cuốn Á châu phi phúc âm chuyên nói rõ chính sách liên lạc Á châu, mà chú ý về sự đồng tâm của Trung Hoa và Nhật Bản, đại lược cũng không khác gì cuốn Liên Á sô ngôn. Nhưng cuốn này viết sau khi Trung Hoa và Nhật Bản đã cắt đứt quan hệ trước nên không có hiệu lực; những tác phẩm khác chỉ có thể gián tiếp quan hệ với sự nghiệp cách mạng thôi (xem sách trên, tr. 206-207).

Y hồn đơn (năm 1920), tán dương chính sách bất bạo động của Gandhi.

Dư cửu niên lai sở trì chi chủ nghĩa, chủ trương làm “Thế giới cách mạng, văn minh cách mạng”.

Việt Nam vong quốc sử (1 quyển) do ông biên soạn trong thời gian rời nước sang Trung Quốc, xuất bản năm 1905 (Ất tị) (Bản dịch Nguyễn Quang Tô, Sài Gòn, 1969).

Sách có bốn phần chính, lời kể của Phan Bội Châu. Ngoài bốn phần ấy, trên đầu sách có các bài tựa, tiền lục của Lương Khải Siêu; cuối sách có phụ thêm bài Việt Nam tiểu chí, kí tên là Tân Dân tùng báo xã viên biên tập, nhưng thực ra, tất cả phần đầu, phần cuối, nghĩa là ngoài bốn phần chính, đều là của Lương Khải Siêu cả.

Phần đầu: Tiền lục chép thể hội thoại, của Ẩm Băng thất chủ nhân: (tức là Lương Khải Siêu), ghi lời một vị vong mạng khách Việt Nam thuật truyện. Lời văn rất bi thương thống thiết, khiến ai đọc tới cũng phải tê tái người. Nói rõ người Việt thời đó có 5 thành phần: 1. Phái Cần vương; 2. Hạng người hết đường sinh kế chỉ mong khởi nghĩa; 3. Người trí thức phẫn uất vì thấy nước mất; 4. Người căm thù giặc xâm lăng, máu sôi sùng sục muốn cử sự ngay; 5. Cuối cùng là bọn chó săn, đi theo giặc Pháp. Thứ nữa có nói qua đến vấn đề đất đai ở nước ta và chính sách bóc lột của bọn thực dân Pháp…. Bốn phần chính của cuốn sách như sau:

I. Nguyên nhân và sự thực của việc vong quốc của Việt Nam. Đại ý nói, bọn thống trị phong kiến triều Nguyễn, tự mãn, tự túc, ỷ lại người ngoài, đàn áp bước tiến của nhân dân. Do đó, người Pháp đã thừa cơ dòm ngó Việt Nam, âm mưu xâm lược. Trước hết có bọn giáo sĩ làm tiền phong, mượn tiếng giảng đạo, mê hoặc dân chúng. Kế đến bọn tư bản nối gót, xin thông thương. Kết cục, chúng gây ra chiến tranh xâm lược. Sau đó thuật qua các cuộc chống Pháp anh dũng ở Nam Kì và Bắc Kì. Nam Kì có Nguyễn Huân, Nguyễn Trung Trực, Trương Công Định, Trương Bạch. Bắc kì có Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Nguyễn Cao… Ngoài các hành vi nghĩa liệt của các vị anh hùng dân tộc, cũng có thuật cả các hành động đê hèn của bọn chó săn Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Thân…

II. Tiểu truyện các bậc chí sĩ trong thời nước mất: Nguyễn Bích, Vũ Hữu Lợi, Đỗ Huy Liêu, Tống Duy tân (con là Duy Thanh), Nguyễn Đôn Tiết, Đinh Văn Chất, Nguyễn Hiệu, Phan Bá Phiến, Lê Trung Đình, Trần Du, Phạm Toản, Hà Văn Mĩ, Nguyễn Sĩ, Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng…

III. Tình trạng người Pháp làm cho nhân dân ngu muội, ươn hèn, ốm yếu. Trong phần này có kể rõ các thứ thuế về thời đó: thuế ruộng đất, nhân khẩu, nhà ở, sinh tử, đò ngang, văn tự, hiếu hỉ, ăn uống, thuyền đò, cửa hàng buôn bán, chợ búa, muối, rượu, đình chùa, công nghệ, ruộng trồng thuốc hút, các thứ thuốc hút… Ngoài ra còn các hành động cướp của, hiếp người rất khéo: dung túng cho bọn cường hào, chỉ dẫn lối kiếm lời, bắt con gái lương thiện làm nghề mãi dâm. Chúng đặt ra hai nhà báo để làm ngu dân: Đại Pháp nhật báoĐồng Văn nhật báo.

IV. Tương lai của Việt Nam: Vì tinh thần dân tộc Việt Nam luôn luôn quật cường bất khuất, nên nước Việt Nam không thể bị diệt vong được. Nhân đó, cụ chia người Việt thời ấy làm 9 hạng: 1. Trí thức con nhà quyền quí; 2. Diệt giặc Pháp để đền ơn nước; 3 Quyết tâm thề giết quân thù; 4. Trả thù cho bản thân và cho gia đình; 5. Người theo công giáo đã bị bọn Pháp lừa bịp, căm hờn quyết trả thù; 6. Người theo công giáo quyết tâm giết giặc Pháp để phù thực đạo Chúa; 7. Nhân dân bị cùng khổ không chịu nổi sự ngược đãi; 8. Có hạng người kiên quyết giết hết giặc Pháp không để cho còn một đứa râu xồm nào trên đất Việt; 9. Coi giặc là kẻ thù không đội trời chung.

Phần này kết thúc bằng bài ca tiếng Việt hô hào, giác ngộ các chú lính tập, tức là người Việt đi lính cho Pháp.

Các chú tập binh,
chú ở Việt Nam sinh,
chú ở Việt Nam trưởng,
chú khắc chú sướng.
Chú vỗ chú về,
Chú mãn chú về,
Thuế sưu chú chết!
Họ đương chú la liệt,
Thân thích chú xác xơ,
Chú nghĩ lại biết chưa?
Tây thương yêu chi chú!
Chú con một họ, chú niêm một nhà:
Yếm bà lại buộc cổ bà.
Lạy, lạy chú bách bái!
Thiên bái, vạn bái chú!

Phần phụ: Việt Nam tiểu chí. Nói sơ lược về lịch sử, địa lí Việt Nam, từ thượng cổ đến cuối thế kỷ thứ XIX.

Sách Việt Nam vong quốc sử, có hai bản in nhưng vẫn không khác nhau. Một bản in riêng, xuất bản năm Ất tị (1905), tức là bản đã dùng để phân tích. Bản này có trước nên nay hiếm có. Một bản in trong Ẩm Băng thất toàn tập của Lương Khải Siêu.

Vào cuối đời ở Bến Ngự ông viết nhiều tác phẩm, một trong các cuốn đáng chú ý là bộ Khổng học đăng (1957). Ngay đầu sách ông có lời Phàm lệ như sau:

1. Mục đích người làm bản sách này là cốt phù trì nhân đạo, nếu ai không để lòng vào nhân đạo thời xin chớ đọc.

2. Lại cốt phát huy chân lí để duy trì nhân tâm, bởi vì nhân tâm còn xấu thời thế đạo chẳng bao giờ tốt. Vậy nếu ai đã mất hết nhân tâm thời chắc không muốn đọc bản sách này, mà tác giả cũng xin chớ đọc.

3. Tác giả lại muốn cho người ta biết học cũ vẫn không phải trần hủ, mà học mới vẫn không phải phù hoa. Nếu học cho đến tinh thần thời ví như làm nhà: học cũ là nền tảng, mà học mới tức là tài liệu, hai bên vẫn có thể giùm cho nhau làm nên một tòa nhà hoa mĩ. Chẳng bao giờ không tài liệu mà làm nên nhà, và cần thứ nhất là chẳng bao giờ không nền tảng mà dựng đuợc nhà. Tác giả viết bản sách này là muốn điều hòa học cũ với học mới, hai bên tương thành cùng nhau, mà quyết không tuơng phản.

Nếu ai chưa để mắt vào bản sách này mà trước đã có một ý kiến sẵn: hoặc bài bác học cũ, hoặc công kích học mới, hễ có ý ấy thời xin chớ đọc.

4. Tác giả nói học cũ là nói chân triết lí của Á Châu thuở xưa, nói học mới là chỉ nói khoa học tối tân thiệt có ích với nhân sinh của thế giới bây giờ.

Cái danh từ học cũ chẳng phải là cái đồ để đánh cắp áo mũ cân đai đâu! Cái danh từ học mới chẳng phải là cái mồi để hót gạt mề đay kim khánh đâu! Vậy nên tác giả xin thề trước với ba hạng người:

a/ Hạng người chỉ tranh ngôi thứ xôi thịt trong đình làng;
b/ Hạng người muốn lòe loẹt khoe khoang, lấy om cơm túi bạc làm mồi hạnh phúc.
c/ Hạng người xu quyền phụ thế, lấy đồng bào chủng tộc làm mồi vinh thân.
Ba hạng người ấy, tác giả xin chớ đọc đến quyển sách này, mà tác già cũng chắc trước rằng họ nhất định không thèm đọc. Bởi vì họ nhận định một cái giá trị rất cao, là muông chim, là lục súc, là ma quỷ, yêu tinh, thời bản sách này nói nhân đạo họ đọc làm gì?

5. Hễ ai đọc bản sách này, trước phải lập định một cái chí khí tự nhiên rằng: “Ta là Khổng Tử, ta là Mạnh Tử, ta là Bá Lạp Đồ (Platon), ta là Khang Đức (Emmanuel Kant), chẳng qua đời tuy có xưa nay, đất tuy có đông tây, mà tâm lý in như nhau, thánh hiền tức là ta, ta tức là thánh hiền, ta chỉ là người hậu tiến của cố nhân mà thôi. Có chí khí ấy thời đọc quyển sách này mới thích.

Nếu ai chưa đọc quyển sách này mà trước đã có một ý kiến sẵn: định làm nô lệ cho người đời xưa, hay định làm nô lệ cho người đời nay thời xin chớ đọc.

Huế, mùa Xuân Kỉ tị (1929)
Sào Nam Phan Bội Châu

Ngày 29-10-1940 ông mất tại lều tranh Bến Ngự, Huế thọ 73 tuổi.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..