[23]-Pháp đô hộ (1883-1945)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Phạm Liệu

Tên khác Tang Phố – Sư Giám – Trừng Giang
Năm sinh Nhâm Thân 1872 – Bính Tí 1936
Tỉnh thành Quảng Nam
Thời kì – Pháp đô hộ (1883-1945)

Danh sĩ, cuối triều Nguyễn, tự là Tang Phố, Sư Giám, hiệu là Trừng Giang, quê làng Trừng Giang, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Điện Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Ông xuất thân trong một gia đình Nho học, danh gia ở Điện Bàn. Nội tổ là Phạm Hữu Nghi từng làm Chánh sứ sang Trung Quốc, rồi công cán Giang Lưu Ba (Singapore). Thuở nhỏ ông được thân phụ chăm sóc rất chu đáo trong việc học hành, năm 1890 được bổ học sinh trường Đốc Quảng Nam. Năm Giáp ngọ 1894 đỗ Giãi nguyên (tại Trường Thừa Thiên), năm 1898 đỗ tiến sĩ. Đặc biệt trong khoa này ông trúng cách Tam giáp đồng Tiến sĩ cùng với bốn bạn đồng hương, được vua Thành Thái sắc ban Ngũ phụng tề thi (Năm con phụng cùng bay). Tức khoa này có 5 vị đỗ đại khoa đều là sinh quán tỉnh Quảng Nam (Tiến sĩ Phạm Liệu, Phan Quang, Phạm Tuấn, Phó bảng Dương Hiển Tiến, Ngô Chuân).

Tương truyền, trong những năm 1891, 1894 ông là một trong hai thí sinh thông minh và hay chữ nhất tại kinh đô Huế. Các khoa này đều thi tại Trường La Chữ (Thừa Thiên) học sinh các tỉnh khác rớt hàng loạt. Riêng Huỳnh Thúc Kháng và ông đều được vào trường Ba. “Vì cớ ấy, tên đồng danh Huỳnh Hanh, Phạm Liệu bay khắp kinh sư, số người tấp nập tới xem chúng tôi như kiến ổ. Kinh sư biết có Huỳnh Hanh, Phạm Liệu và lúc nào cũng cặp kè gọi như thế, chính bắt đầu từ ngày ấy. (Theo Minh Viên, Huỳnh Thúc Kháng tự truyện, Anh Minh dịch và xuất bản, Huế, 1963).

Sau khi đỗ Tiến sĩ, ông làm quan tại Huế rồi chuyển đi một số tỉnh miền Trung. Năm 1916 ông làm Án sát Quảng Ngãi. Theo truyền văn ông là một trong những người phát giác đầu mối cuộc khởi nghĩa Duy Tân (Trần Tiễn Hối, Công sứ De Taste) đưa đến cuộc thảm sát các nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa. (Thật sự vụ án này do Trần Quang Trứ, người bà con là cháu hoặc em với Tuần vũ Trần Tiễn Hối, tố giác với Pháp. Tư liệu của nhân chứng lịch sử bà Hoàng Thị Tòng quê Tiên Phước, bà từng sang Nhật, Đức… đính chính).’ Năm 1920 ông chuyển về Huế làm Tham tri bộ Hình, cuối cùng giữ chức Thượng thư bộ Binh. Vào năm 1933 Pháp để cho vua Bảo Đại trực tiếp tham chánh, nên toàn thể nội các do Nguyễn Hữu Bài (1863-1935) đứng đầu phải từ chức trong đó có ông đang giữ chức thượng thư bộ Binh. Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn (1900-1946) có bài thơ ghi lại biến cố chính trị này:

Năm cụ khi không rớt cái ình
Đất bằng sấm dậy giữa thần kinh.
Bài không đeo nữa đen dâng Lại.
Đàn chẳng ai nghe khéo dở Hình.
Liệu thế không xong Binh chẳng được.
Liêm đành chịu đói Lễ đừng dinh.
Công danh như thế là hưu hỉ
Đại sự xin nhường kẻ hậu sinh.

(Bài: Nguyễn Hữu Bài – Thượng thư bộ Lại.

Đàn: Tôn Thất Đàn – Thượng thư bộ Hình.

Liệu: Phạm Liệu – Thượng thư bộ Binh.

Liêm: Võ Liêm – Thượng thư bộ Lễ.

Đại: Vương Tứ Đại – Thượng thư bộ Công).

Ông về hưu sống tại quê nhà và mất năm 1936 (ngày 21-11), hưởng thọ 66 tuổi.

Ông là tác giả nhiều thơ phú nổi tiếng đương thời.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..