[22]-Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Phạm Hữu Nghi

Tên khác Trọng Vũ – Đạm Trai – Phạm Hồng Nghi
Năm sinh Đinh Tị 1797 – Nhâm Tuất 1862
Tỉnh thành Quảng Nam
Thời kì – Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)

Danh thần triều Minh Mạng, Thiệu Trị, tự là Trọng Vũ, hiệu là Đạm Trai, tên cũ là Phạm Hồng Nghi, tổ tiên vốn người Nghệ An, sau di cư vào lập nghiệp ở Quảng Nam. Quê làng Trừng Giang, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc xã Điện Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam).

Lúc còn nhỏ tuổi ông rất thông minh, thơ đọc qua một lần là thuộc lòng, lớn lên học tại các trường trong tỉnh đều được thầy giáo yêu thương vì học giỏi.

Năm Minh Mạng thứ 2 (1821) thi Hương đỗ Á nguyên tại Trường thi Trực Lệ (sau đổi là Trường Thừa Thiên). Sau thi Hội chỉ trúng cách kì ba (hỏng Tiến sĩ), rồi ra làm quan. Sơ bổ chức Điển bạ, thăng dần đến Tu soạn, được sung chức Chánh sứ sang Trung Quốc điều đình về việc ngoại giao giữa nước ta và Trung Hoa. Lúc trên đường về nước vì vi phạm việc đệ trạm không hợp lệ nên bị cách chức phải đi “hiệu lực” làm việc khác để chuộc tội) công cán ở Singapore (Giang Lưu Ba). Sau chuyến công cán trở về được khôi phục chức Tư vụ, thăng Chủ sự. Từng giữ chức Tri phủ tại các phủ: An Nhơn, Hoài Đức, Hoài Nhơn tỉnh Bình Định.

Năm 1841 (Thiệu Trị năm đầu) chuyển ra làm Án sát tỉnh Nghệ An, kế đó đổi về kinh đô thăng Quang lộc tự khanh sung Toản tu ở Quốc sử quán.

Năm Mậu thân 1848 được thăng thực thụ Hữu Tham tri bộ Lễ, sung giảng sách ở tòa Kinh diên hằng ngày cho vua nghe.

Năm Giáp dần 1854 lúc đang làm giảng quan tại tòa Kinh diên, ông tâu lên vua Tự Đức, đề nghị cho sưu tầm các sắc mệnh, cáo, biểu, sớ, bi kí, và các bài tựa, bạt của vua và các công thần đã soạn ra, chọn những bài xuất sắc, phân loại thành bộ môn chuyên ngành in thành sách.

Nhan đề bộ sách ông đề nghị có tên là Đại Nam văn uyển thống biên để làm mẫu mực điển chương cho học thuật. Vua Tự Đức cho là phải, liền phê duyệt, rồi giao cho ông sưu tầm, trông coi để khắc in. Bộ sách này do ông làm Tổng tài trông nom việc biên soạn, sau khắc in được 76 quyển, gồm: 1420 bài xuất sắc. Đây là một phần của di sản văn hóa Việt Nam nói chung và triều Nguyễn nói riêng.

Năm Tự Đức thứ 15, (1862) ông già yếu xin về trí sĩ, vua chuẩn y ban cho mũ áo ưa đãi, đến tháng 3 năm 1862, ông bệnh mất ở quê nhà, thọ 65 tuổi.

Phạm Hữu Nghi tuy làm quan tại triều hằng ngày ở cạnh vua, chúa, công, hầu… nhưng lúc nào cũng gần gũi với dân chúng, quê hương. Theo Quốc sử triều Nguyễn mỗi khi về làng ông thường chăm lo đến cảnh sống của bà con xứ sở. Có lần ông về thăm quê, gặp nạn bãi sông lở vào mùa lụt, ông bèn cho mời họp bà con quê hương, tổ chức xin đất các làng lân cận cho dân đến khai khẩn, lập làng đến ở. Ân đức của ông thấm nhuần, dân làng ai ai cũng mang ơn ông.

Quốc sử quán triều Nguyễn phẩm bình ông, viết: “Phạn Hữu Nghi thông các kinh, học rộng, danh sĩ Trung Hoa đều khen thưởng lại có lòng thương dân.

Tác phẩm của ông có:

Đại Nam văn uyển thống biên (76 quyển)
Sứ Yên tùng vịnh (Thơ đi sứ Bắc Kinh)
Đạm Trai thi tập
được các danh sĩ đương thời và nhiều người truyền tụng.

Cháu nội ông là Tiến sĩ Phạm Liệu một trong những người hay chữ ở Quảng Nam, Thừa Thiên vào các năm 1895-1900. Ông (P.L) đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ và một trong “Ngũ phụng tề phi” của Quảng Nam trong khoa Mậu tuất (1898).

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..