[20]-Trịnh - Nguyễn (1533-1788)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Phạm Công Trứ

Năm sinh Canh Tí 1600 – Ất Mão 1675
Tỉnh thành Hưng Yên
Thời kì – Trịnh – Nguyễn (1533-1788)

Danh sĩ, tác giả đời Lê Thần tông, quê làng Liêm Xuyên, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Thanh Xá, xã Nghĩa Hiệp, huyện Yên Mĩ, tỉnh Hưng Yên).

Năm Mậu thìn 1628 ông đỗ đồng tiến sĩ lúc 28 tuổi. Buổi đầu ông làm Hiệu thảo Viện Hàn lâm, Thái thường tự khanh. Năm Mậu ngọ 1642 ông ra làm Tán lí đạo Sơn Nam cùng với Thượng thư Nguyễn Duy Thể lo việc biên phòng. Do công dẹp an nhóm Trịnh Sầm nổi loạn, ông được vời về triều làm Phó đô ngự sử, tước Khánh Yến Bá, rồi thăng Đô ngự sử.

Năm Đinh dậu 1657 ông làm Thượng thư bộ Lễ, tước Yên Quận Công, gia Thiếu bảo, kiêm Đại học sĩ Đông các. Sau ông coi sóc Quốc tử giám, rồi đổi làm Thượng thư bộ Lại (Nhâm dần 1662) và làm Tham tụng ở phủ chúa Trịnh.

Năm Mậu thân 1668 ông về hưu, được phong Thái bảo, Quốc Lão, Chúa Trịnh tặng ông hai câu đối thêu vào lá cờ:

1. Diêu đỉnh nại, nhiếp âm dương, triều đình trụ thạch,
Hoàn qui mô, định hiệu lịnh, quốc gia đống lương.

2. Thượng thư chưởng ấn lục, thùy thân tiến hốt, cửu miếu điện an,
Thiên hạ đạt tôn tam, vĩ tích gia ngôn, triều đình chuyên vọng.

Nghĩa:

1. Niên canh đỉnh vạc, điều hòa âm dương, trụ đá của triều đình.
Hoàn thành qui mô, định ra hiệu lênh, rường cột của nước nhà.

2. Làm Thượng thư giữ sáu ấn, thân mang đai hết chín miếu được yên,
Gồm thiên hạ ba điều quí (tước, tuổi và đức) công to việc lớn, triều đình trọng vọng.

Năm Quí mùi 1675 triều đình lại vời ông ra làm Tể tướng, coi việc cả 6 Bộ. Đến năm Ất mão 1765 ông mất, thọ 75 tuổi truy tặng Thái tể, thụy Kinh Tế. Ông sáng tác văn chương, nghiên cứu lịch sử. Khoảng năm 1665, ông cùng một nhóm danh sĩ khảo duyệt và tục biên bộ Đại Việt sử kí bản kỉ tục biên. Bộ sử này ông có soạn thêm từ đời Lê Trang tông – gồm cả sử nhà Mạc – đến hết đời Lê Thần tông (1527-1662). Thơ ông bộ Toàn Việt thi lục chép 17 bài.

Con ông là Phạm Công Phương cũng đỗ đạt, có danh tiếng đương thời.

Bộ Đại Việt sử kí bản tục biên (23 quyển) do ông và Hồ Sĩ Dương viết tiếp các tác giả trước từ đời Lê Trang tông đến hết đời Lê Thần tông (1527 – 1662). Sau đây là Bài nói đầu của bộ Đại Việt sử kí tục biên của tác giả, do G.S Trần Văn Giáp dịch:

“Vì sao làm ra quốc sử? Quốc sử cốt để ghi chép các sự việc đã xảy ra. Mỗi triều đại lên làm vua trị dân thì tất phải có sử kí của từng đời ấy. Còn việc ghi chép của sử, giữ lời công luận rất nghiêm, tuyên dương việc trí trị thì sáng tỏ ngang với mặt trời, mặt trăng; trừng trị kẻ loạn tặc thì homosexual gắt như sương muối mùa thu.

Điều tốt có thể biết để bắt chưởc; điều xấu có thể biết để tự răn, quan hệ đến đại thể của chính trị không phải là không nhiều vì thế mà làm ra quốc sử. Kể từ khi nước ta nối buổi mở mang, họ Hồng Bàng bắt đầu ra trị nước, trải đến Cung hoàng triều ta (Lê) có vua, có tôi, có thể thống về chính trị, có việc hay dở, về thế đạo có lúc thịnh, lúc suy; về lễ nhạc việc làm việc bỏ, nhân vật có người hiền, người kém, không việc gì không chép đủ ở trong sử sách.

Hay thử xét xem; xưa kia Hàn lâm việc học sĩ quốc sử viện giám tu là Lê Văn Hưu, vâng mệnh Trần Thái tông biên soạn bộ Đại Việt sử kí, bắt đầu từ Triệu Vũ đế đến Lý Chiêu hoàng, và quan làm sử triều ta (Lê) là Phan Phu Tiên vâng mệnh Nhân tông biên soạn nối tiếp bộ Đại Việt sử kí chép từ Trần Thái tông đến khi người Minh trở về nước, về nghĩa lớn khen chê đã rành rành ở công luận trong lời sử chép. Kịp đến Thánh tông Thuần hoàng đế triều ta, bẩm sinh ra trí tuệ sáng láng, hăng hái, có chí khí anh hùng, mở rộng đất đai cõi bờ, sáng tạo phép tắc, qui định chế độ, lại rất lưu ý đến sử sách. Vào khoảng năm Hồng Đức thứ 10 (1479) vua sai Lễ bộ tả thị lang kiêm Quốc tử giám tư nghiệp là Ngô Sĩ Liên biên tập bộ Đại Việt sử kí toàn thư. Nối sau đó, năm Hồng Thuận thứ ba (1511), Tương Dực đế sai binh bộ thượng thư kiêm Quốc tử giám tư nghiệp, kiêm sử quan Đô tổng tài là Vũ Quỳnh soạn bộ Đại Việt thông giám, chép từ Hồng Bàng thị đến Thập nhị Sứ quân riêng ra, gọi là Ngoại kỉ; từ Đinh Tíên hoàng cho đến Thái tổ Cao hoàng đế bản triều năm đầu mới đại định thiên hạ, gọi là Bản kỉ. Những phép lớn nhằm việc nên chép hay nên bỏ, lại được thể hiện rõ ràng trong ý nghĩa tinh vi sử bút (lời chép). Đến như Việc năm Hồng Thuận thứ 6 (1514) lại sai Thiếu bảo lễ bộ thượng thư, Đông các đại học sĩ kiêm Quốc tử giám tế tửu, tri kinh diên sự, Đôn thư bá là Lê Tung soạn bài Tổng luận sách Đại Việt thông giám, có thể gọi là dốc lòng về sử học, mà những việc phải trái cũng không thể nào trốn khỏi công nghị được. Đến năm Quang Thiệu thứ năm (1519, Lê Chiêu tông) lại sai Lễ bộ thượng thư, Sử quan phó đô tổng tài, tri Chiêu văn quán, Tú lâm cục là Đặng Minh Khiêm làm tập thơ vịnh sử (Vịnh sử thi tập) cũng có thể gọi là muốn xem xét trong thơ mà biết việc hay việc dở.

Xem đó, ta thấy việc biên tập quốc sử đã làm đến ba, bốn lần rồi mà vẫn chưa khắc ván in ra để ban bố, cho nên sao chép theo nhau lầm lẫn, không thể khỏi có sự sai lầm giữa chữ “hợi” và chữ “thỉ”; cha “lỗ” và chữ “ngư. Nếu không giao cho hiệu chính lại, thì làm thế nào mà sửa bỏ được cái thói quen theo lẫn nhau ấy được.

Kính nghĩ: hoàng đế bệ hạ, nối giữ nghiệp lớn, noi theo phép lớn, hàng ngày cùng với Đại nguyên soái chưởng quốc chính, thượng sư Tây vương (Trịnh Tạc) chỉnh đốn lại giường mối, chấn hưng văn giáo, chuyên ủy cho Khâm sai tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh kiêm tổng chính binh, thái úy, Nghị quốc công Trịnh Căn coi giữ việc căn bản về chính trị, tìm xét lí lẽ việc trị bình, biết ro là làm ra sử tức là chính danh phận cho từng thời, để bảo cho đời sau biết khuyên răn; bấy giờ mới bắt đầu quyết đoán trong lòng, tìm kiếm sử sách, đặc chỉ sai tôi cùng với bọn: Tả thị lang: Dương Hạo; Hữu thị lang: Hồ Sĩ Dương, Nguyễn Quốc Khôi, Đặng Công Chất; Tự Khanh: Nguyễn Công Bích; Đông các: Bùi Đình Viên; Thị thư Đào Công Chính; Thị Chế: Ngô Khuê; Phủ Doãn: Nguyễn Đình Chính, Cấp sự trung: Nguyễn Công Bật; Hàn lâm:

Nguyễn Viết Thứ, Vũ Duy Đoán khảo đính lại bộ Quốc sử, chép từ Hồng Bàng thị đến đời Cung hoàng, lại sai biên soạn nối từ đời Trang tông Dụ hoàng đế đến khoảng năm Vạn Khánh triều Thần tông Uyên hoàng đế, soạn thuật lại thành một bộ sách sử cho khắc in ra để ban hành.

Bọn chúng tôi tự biết tài học kém, kiến thức hẹp, mắt không thấy qua muôn cuốn sách của Nghiệp hầu; bụng cũng không chứa được hàng kho sách như Thế Nam mà tài học lại kém hơn các bậc Lê (Tung) Đặng (Minh Khiêm), đã dám khua môi múa mép với công việc trên khoảng mấy ngàn năm, để sửa chữa được đầy đủ. Track đã lạm nhận mệnh lệnh sai đến, không dám vì sức học của mình nông nổi vụng về mà từ chối. Bởi vậy, chúng tôi cùng nhau gia công tìm kiếm, gián hoặc thấy chỗ nào sao chép sai lầm, nghĩa chữ bế tắc không chạy, thì suy tìm trong ý nghĩa, sửa lại một đôi chút, để cho người đọc dễ hiểu chứ không dám nói thêm, đặt điều ức đoán. Lại trích ra, lấy từ Hồng Bàng thị cho đến Ngô Sứ quân, nhan đề là Đại Việt sử kí ngoại kỉ toàn thư, từ Đinh Tiên hoàng đến Thái tổ Cao hoàng đế triều ta (Lê), gọi là Bản kỉ toàn thư. Tất cả đều theo đúng như lối trứ thuật của các sử thần xưa là Ngô Sĩ Liên và Vũ Quỳnh. Còn từ Thái tông đến Cung hoàng triều ta (Lê) thì nhân theo sử trước đã chép đề là Bản kỉ thực lục. Lại khảo cứu thêm sách dã sử của Đăng Bình và trích lược trong những bản chép còn sót lại do mọi người mới đem dâng nộp, biên thuật từ quốc triều Trang tông Dụ hoàng đế đến Thần tông Uyên hoàng đế, chép thêm vào bộ Quốc sử, gọi là Đại Việt sử kí bản kỉ tục biên. Tổng cộng chia ra làm 23 quyển. Phàm về phần tục biên thì ở dưới chỗ hệ niên (chép từng năm), nếu không phải là chính thống và là niên hiệu Bắc triều, đều chia ra chua làm hai dòng. Còn như những điều chép trong phàm lệ thì đều theo đúng như cách thức chép của Sử trước. Đó cốt là tôn sùng nền chính thống mà truất bỏ kẻ tiếm ngụy, nêu ra đại cương để làm tỏ gương răn đời. Hoặc ở chỗ nào nghĩa chữ đặt chưa được tinh, phép đặt câu chưa đúng, mong các bậc học rộng biết nhiều sửa gọt lại cho, để mọi người biết rõ. Bộ Sử này làm ra, nói về chính trị cũng là theo phương pháp sách Thượng thư là sử của đời cổ; nói về khen chê, cũng là theo lối chép của sách Xuân Thu là sử của nước Lỗ, might ra nó có thể bổ ích cho đường lối chính trị, giúp ích cho việc giáo dục, phong tục, cũng là giúp ích cho sự khảo chính một phần nào vậy.

Viết năm Cảnh Trị thứ 3 (1665, đời vua Lê Huyền tông) là năm Ất tị, tiết trọng thu, ngày tốt.

Tứ Mậu thìn khoa đồng tiến sĩ xuất thân, Tham tụng, Lại bộ thượng thư, kiêm đông các đại học sĩ, Thiếu bảo Yến quận công, thần, Phạm Công Trứ phụng biên”.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..