[22]-Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Nguyễn Văn Xán

Tên khác Nguyễn Văn Thước
Năm sinh Nhâm Ngọ 1822 – Tân Tị 1881
Tỉnh thành Quảng Nam
Thời kì – Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)

Sơn phòng sứ Quảng Nam, quê làng Quảng Phú, tổng Hưng Thạnh, huyện Lễ Dương, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc xã Tam Phú, thị xã Tam Kì, tỉnh Quảng Nam).

Ông nguyên tên là Nguyễn Văn Hưng sau đổi là Thước hay còn gọi là Xán.

Thời tuổi trẻ ông học ở quê nhà, năm 1884 (Mậu thân) đỗ cử nhân tại trường Quảng Đức (sau đổi là Thừa Thiên).

Sơ bổ (1862) quyền quản phủ Thăng Bình, đồng thời trách nhiệm coi cả hai tổng Hưng Thạnh và An Thạnh tại bản phủ. Đến năm Tự Đức thứ 17 (1864) thăng Hàn Lâm viện điển bộ, Huấn đạo huyện Hà Đông (Tam Kì sau này), năm 1866 thăng Giáo thọ kiêm trông coi việc học hành thi cử Hà Đông (Tam Kì), năm Đinh mão 1867 được thăng Hàn lâm viện tu soạn.

Năm Tự Đức thứ 22 ngày 21-2 năm Kỉ tị 1869 được bổ tri huyện Phú Xuyên, đến năm Tự Đức thứ 25 (1874) được thăng tùng ngũ phẩm Thị độc, sung chức Phó học chánh vô học đường tại kinh đô rồi thăng Hàn lâm viện Thị giảng cùng năm.

Năm Tự Đức thứ 30 Đinh sửu 1877 thăng Trung thuận đại phu giữ chức đề hình Án sát sứ (tức Án sát tỉnh Phú Yên).

Đến nămTự Đức thứ 32, Kỉ mão 1879 thăng Hồng lô tự khanh, chuyển về Quảng Nam với chức sơn phòng sứ sơn phòng Quảng Nam.

Sơn phòng lúc đó đặt tại làng Dương Yên (nay thuộc huyện Trà Mi) là ngã ba của 3 tỉnh Quảng Nam, Quàng Ngãi và Kontum, là cửa ngõ của các sắc dân miền cao xuống đánh, cướp phá dân lành ở vùng cận sơn và đồng bằng. Đây là điểm xung yếu chiến lược ngày xưa và cả hiện nay.

Chính vì địa điểm xung yếu chiến lược nên từ ngày lập sơn phòng, triều Nguyễn đã cử các vị quan am tường hành chánh, quân sự… xuất thân khoa bảng trông coi Từ Nguyễn Tạo (1822-1892), Nguyễn Đình Tựu (1828-1888), Trần Văn Dư (1839-1885) và ông đều là những vị đại khoa từng thông suốt kinh sử và từng là Phụ đạo các hoàng tử. Nguyễn Văn Xán là một trong bốn vị Sơn phòng sứ Quảng Nam cho đến ngày sơn phòng bị hủy bỏ.

Tại đây ông cho xây dựng và bảo vệ phía tây nam Quảng Nam thành một địa điểm biên phòng vững chắc của triều Nguyễn và cả cuộc Cần Vương chống Pháp (1885) sau này.

Ông qua đời lúc đang tại chức nhằm ngày 8 tháng 11 năm Tân tị (1881). Thi hài ông được đưa từ làng Dương Yên bằng đường bộ về an táng tại quê nhà (làng Quảng Phú) hưởng dương 53 tuổi.

Hiện nay phần mộ ông hay còn tại địa phương và được hậu duệ trùng tu khang trang.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..