[22]-Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Nguyễn Tường Phổ

Năm sinh Đinh Mão 1807- Bính Thìn 1856
Tỉnh thành Quảng Nam
Thời kì – Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)

Danh thần, triều Nguyễn, tự là Quản Thúc, Hi Nhân, hiệu Thứ Trai, em cùng cha khác mẹ với Nguyễn Tường Vĩnh, con Binh bộ thượng thư, Phó Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Tường Vân và bà Nguyễn Khoa… Quê làng Cẩm Phô, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam).

Ông xuất thân trong một gia đình vọng tộc, thân phụ từng theo Nguyễn Ánh lúc còn trôi nổi ở miền Nam, có lúc sang Vọng Các (Thái Lan) lập được nhiều chiến công, nên được Nguyễn Ánh sắc ban ân tứ họ Nguyễn Tường thay vì Nguyễn Văn.

Tuổi trẻ ông, thông minh có khí thức, lại học rộng nghe nhiều; ngoài kinh sử ra ông còn thông “cả kiếm thư cầm phả không nghề gì là không kiêm thông”.

Năm Tân sửu 1841, đỗ cử nhân, năm sau Nhâm dần (1842) đỗ Tiến sĩ lúc đã 35 tuổi. Sau khi vinh qui được bổ Hàn lâm viện biên tu ở Nội các, rồi thăng tri phủ Hoằng An (Bến Tre), tri phủ Tân An (Gia Định). Một thời gian sau ông cáo bệnh xin về quê.

Năm 1846 lại bổ làm Giáo thọ Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, rồi chuyển về trông coi nhà in ở phủ Học Chánh sau đó thăng Quyền Đốc học tỉnh Hải Dương.

Theo các sử liệu cũ, Nguyễn Tường Phổ làm quan nổi tiếng liêm chính, công bằng, tính tình cao thượng, yêu người nghèo khổ… Bọn nịnh thần không hợp ý ông nên đường quan chức không thăng tiến.

Ông nổi tiếng văn chương, chuyên tâm về việc giáo dục “dạy người không mệt, trước chăm lo về nghĩa lí, học thuật, sau mới để lòng vào văn chương nghệ thuật để di dưỡng tâm hồn, Cao Xuân Dục trong Quốc triều đăng khoa lụcQuốc sử quán triều Nguyễn đều cho Nguyễn Tường Phổ là “Người có khí tiết, không a dua, không thiết gì về sự thăng quan tiến chức, chỉ lấy câu thơ chén rượu làm vui. Người bấy giờ ví ông với Đào Tiềm”. Chính ông, cũng tự bạch về mình:

“Ta bình sinh không hay khoan thứ cho người, nên đặt hiệu là Thứ Trai mà tự là Quản Thúc. Đó là muốn châm biếm cái tính thiên lệch mà chưa được”.

Năm Bính thìn 1856, ông mất tại chức, hưởng dương 49 tuổi. Con cháu ông sau này phần lớn nổi danh trong lịch sử văn học, báo chí Việt Nam như Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Bách, Nguyễn Tường Long…

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..