[23]-Pháp đô hộ (1883-1945)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Nguyễn Thượng Hiền

Tên khác Đỉnh Nam – Mai Sơn
Năm sinh Mậu Thìn 1868 – Ất Sửu 1925
Tỉnh thành Hà Nội
Thời kì – Pháp đô hộ (1883-1945)

Chí sĩ, Danh sĩ tự Đỉnh Nam, hiệu Mai Sơn, con cụ Nguyễn Thượng Phiên, rể Tôn Thất Thuyết. Quê làng Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc TP. Hà Nội).

Năm Ất dậu 1885 ông đỗ cử nhân mới 17 tuổi, thi Hội đỗ đầu, đang chờ xướng danh thì kinh thành Huế thất thủ. Mãi đến năm 1892 thi lại đỗ Hoàng Giáp mới 24 tuổi. Tuy đỗ cao nhưng ông không ra làm quan, về ẩn cư ở vùng núi Nưa (Nga Sơn), Thanh Hóa. Ít lâu triều đình nhiều lần mời, ông nhận chức Toản tu Quốc sử rồi làm Đốc học tỉnh Ninh Bình.

Năm Đinh mùi 1907, sau khi chịu tang cha, ông bỏ quan, sang Nhật hưởng ứng phong trào Đông du. Từ đấy ông sát cánh với Phan Bội Châu lo việc cứu nước.

Khoảng năm 1915 ông có sang Thái Lan liên lạc với công sứ Đức và Áo bàn kế hoạch hợp tác đánh Pháp. Tình thế biến chuyển nên kế hoạch không thành, và gặp nhiều điều đau xót, ông sang Trung Quốc rồi vào tu ở chùa Thường Tịch Quang ở Hàng Châu.

Năm Ất sửu, ngày 13 âm lịch (28-12-1925) ông bệnh mất ở chùa. Trước khi mất ông có lời trối dặn thiêu xác, vất tro xuống sông Tiền Đường.

Trong lĩnh vực chính trị ông đóng góp không nhiều nhưng về mặt văn học ông có những đóng góp đáng kể.

Tác phẩm chính của ông gồm bộ: Nam chi tận, Hạc Thư ngâm biên, Mai Sơn ngâm tập, Nam hương tập, Mai Sơn ngâm thảo.

Riêng thơ có hơn 600 bài đầy nhiệt tình. Ngoài ra còn có tập Hợp quần doanh sinh thuyết bằng chữ Hán và hai bài phú cải lương viết toàn bằng Quốc ngữ kèm theo những câu thành ngữ, tục ngữ rất giá trị về văn chương bác học cũng như truyền khẩu.

Thơ văn ông có giá trị một lòng lo nước, thương dân, có vẻ đẹp thanh thoát.

Tâm chí ông biểu lộ rõ nét trong bài:

THUẬT CẢM
Thất mã yên trầm biệt cựu lâm,
Quyên khu thị báo quốc ân thâm.
Bổ thiên điền hải tuy nan sự,
Phá phủ trầm chu tự tráng tâm.
Vạn lí chinh san tùy nhạn độ,
Tam canh hùng kiếm tác long ngâm.
Hà thời thân hệ cường Hồ cảnh,
Qui đổi giang san tửu mãn châm.

Bản dịch:

Ngựa biệt rừng xưa khói bụi tung,
Cao dày ơn nước quyết đền xong,
Vá trời lấp biển dù gian khổ,
Thuyền đắm rồi tan chẳng ngại ngùng.
Áo khoác đường trường theo bóng nhạn,
Gươm thiêng đêm vẳng thét oai rồng.
Ngày nào tay trói quân Hồ lỗ,
Rót chén vui mừng với núi sông.

Khi ông mất, nhà chùa theo lời ông dặn lại, đem xác hỏa táng, rồi rải tro xuống sông Tiền Đường. Phan Bội Châu nghe tin ông mất có bài văn tế rất thống thiết.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..