[22]-Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)[23]-Pháp đô hộ (1883-1945)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Nguyễn Thuật

Tên khác Hà Đình – Hiếu Sinh
Năm sinh Nhâm Dần 1842 – Tân Hợi 1911
Tỉnh thành Quảng Nam
Thời kì – Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)
– Pháp đô hộ (1883-1945)

Danh thần, Danh sĩ cuối triều Nguyễn, hiệu , qHà Đình tự Hiếu Sinh, quê làng Hà Lam, huyện Lễ Dương, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam).

Ông xuất thân trong một gia đình vọng tộc lâu đời, năm Đinh mão 1867 đậu cử nhân, qua năm sau 1868 đậu Phó bảng.

Ông làm quan trải qua các chức vụ: Thị lang nội các, Chánh sứ sang Trung Quốc, Giáo đạo trưởng Dưỡng Thiện, Thượng thư bộ Hộ, Thượng thư bộ Lại, Tổng đốc Thanh Hóa. Sau được gia phong hàm Thái tử Thiếu bảo, Hiệp biện đại học sĩ, lãnh chức Thượng thư bộ Binh và giảng sách tại tòa Kinh Diên. Nhiều lần ông làm Chánh chủ khảo các kì thi Hội ở Huế.

Nguyễn Thuật là một quan lớn triều Nguyễn, trải các đời vua Tự Đức, Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân mà gia đình vẫn thanh bạch, đương thời được nhân dân và sĩ phu trọng vọng. Nhà thơ Đào Tấn rất quí trọng, có tặng ông bài thơ:

Kí hoài Hà Đình Công
Tuế mộ hà nhân kí viễn thư,
Hà Đình phong cảnh cận hà như.
Niên niên kỉ thủ nham đầu nguyệt,
Thập nhị hồi viên đáo tác cư.

Nghĩa:

Nhớ ông Hà Đình gởi thư thăm
Năm hết nhớ người bạn xa gởi thơ thăm
Phong cảnh nhà hoa sen chằng biết gần đây ra sao
Hằng năm hãy nhớ lấy mảnh trăng đầu ghềnh,
Mười hai độ trăng tròn đã soi đến nơi ta ở lẻ loi.

Ông là tác giả nhiều sách:

Mỗi hoài ngâm thi thảo I, II
Mỗi hoài ngâm văn thảo
Hà Đình văn tập
Hà Đinh thư thảo
Vãng sư Thiên Tân nhật kí
Hà Đình văn sao
Hà Đình ứng chế thi sao
Thời chính tạp luận
Việt Nam cương giới vựng biên
Sử quán thư mục
Khoái thư trích lục

Thơ ông có đến hàng trăm bài (hơn 500 bài) giàu thi tính, nghệ thuật có thi đề đã thành có một không hai mà ông vẫn làm, như bài Đăng Hoàng hạc lâu (2 bài).

“Trần mộng hoang hoang bất thí thâu
Hoàng địa lão thượng tư tự lâu
Tiên ông hà xứ thừa vân hạc
Tha khách kim triêu thưởng đầu ngưu
Giang khoát ngư long ba tiệm trướng,
Xuân thâm oanh vũ thảo du sầu.
Đăng lâm khước lạc Đường nhân hậu,
Dinh đắc kì quan viễn hải châu.”

Bản dịch:

Lẽo đẽo bụi hồng chẳng nhớ thu,
Trời hoang đất cỗi một lầu trơ!
Tiên ông trước đã từng Vân Hạc
Du khách nay tìm đến Đẩu Ngưu
Sông rộng cá rồng cơn sóng dậy.
Xuân già oanh vũ hót buồn nao!
Đến đây dù có sau Đường nhỉ,
Lời được trời giành thuyền biển mơ.

Điều đó nói lên được đức tự tin và thi tài trác tuyệt Nguyễn Thuật.

Ngoài một đại thần, một thi gia, ông còn là một nhà sử học từng giữ chức Tổng tài Quốc sử quán. Điều đó được thể hiện qua tác phẩm:

Sử Quán thư mục do ông và Trương Quang Đản hợp soạn (1 cuốn).

Sách có tờ tấu của Tổng tài Quốc sử quán và Toàn tu sử quán nói rõ về mục lục của sử quán bị thất lạc trong năm 1885. Đến năm Thành thái thứ 8 (1896) ông (NT) được lệnh chỉnh lí lại các sách ở Quốc sử quán để làm thành mục lục và kể rõ lại:

Tập I: Các sách về sử làm trong triều Nguyễn.

Tập II: Số sách kể lại trong năm Duy Tân thứ nhất (1907) gồm khoảng 500 bộ…

Gần đây (2005) các tác phẩm của ông được dịch sang tiếng Việt qua một công trình đồ sộ có tên: Hà Đình Nguyễn Thuật Tác phẩm.

Bài liên quan

43 nhận xét

  1. Психолог в Харькове, консультация.
    Рейтинг психологов Онлайн-консультация у психолога.
    Услуги консультации психолога.
    Онлайн консультация. Онлайн-консультация у
    психолога. Помощь профессионального Психолога.
    Психолог в Харькове, консультация.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..