[22]-Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Nguyễn Phúc Hồng Nhậm

Tên khác Tự Đức
Năm sinh Kỉ Sửu 1829 – Quí Mùi 1883
Tỉnh thành Thừa Thiên-Huế
Thời kì – Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)

Hoàng đế, danh sĩ tên tục là Thì, tên thật là Nguyễn Phúc Hồng Nhậm con thứ hai vua Thiệu Trị, vua thứ tư triều Nguyễn, miếu hiệu là Dực tông, hiệu năm là Tự Đức, nên cũng gọi là vua Tự Đức, sinh ngày 28-8 Kỉ sửu (22-9-1829). Ông là một trong các danh sĩ lớn của Việt Nam.

Thuở nhỏ ông được phong tước là Phước Tuy Công, năm Mậu thân 1848 vua Thiệu Trị mất ông được nối ngôi năm 19 tuổi. (Có tài liệu ghi năm sinh: 1925) Về chính trị ông bị chê trách nhiều như việc thảm sát anh ruột và các cháu, nhất là với chủ trương thỏa hiệp cầu hòa đã để mất nước vào tay thực dân Pháp.

Về văn chương ông có những đóng góp khá quan trọng cho văn chương Việt Nam vì ông là một ông vua hay chữ của triều đại phong kiến Vlệt Nam, rất say mê con đường học vấn, cử nghiệp.

Ngày 16-6 năm Quí mùi (19-9-1883) ông mất, hưởng dương 54 tuổi, ở ngôi vua 35 năm. Về phong cách sống trong gia đình, ông là người giữ trọn chữ hiếu đối với từ mẫu. Đức tính hiếu hạnh của ông đối với mẹ (bà Từ Dũ) là một tấm gương mẫu mực cho nhiều người Việt Nam.

Thơ ông viết về nhiều chủ đề từ vịnh sử, vịnh vật, nhân tình thế thái rất đa dạng, phong phú.

Ngoài ra, ông còn ra lệnh cho Quốc sử quán soạn bộ Khâm định Việt sử. Có thể nói Tự Đức là một trong các vị vua hay chữ nhất của chế độ phong kiến Việt Nam. Đời ông là một khối mâu thuẫn lớn giữa một bên là vị hoàng đế cầm quyền nước và một bên là một nhà văn có nhiều day dứt trong tâm thức giữa bao nhiêu bế tắc của cuộc đời mà bản thân mình không giải quyết được. Thơ văn và cuộc đời ông chứng minh được điều mâu thuẫn lớn đó.

Các tác phẩm của ông:

Khâm định đối sách chuẩn thằng
Từ huấn lục.
Luận ngữ diễn ca
Thập điều diễn ca
Việt sử tổng vịnh
Tự Đức thánh che văn tam tập
Tự học giải nghĩa ca
Ngự chế thi ngũ tập
Ngự chế thi phú
Ngự chế thi
Tự Đức cơ du tự tỉnh thi tập
Tự Đức chiếu dụ
Tự Đức di chiếu
Hoàng triều chiếu dụ ngự chế văn
Vịnh sử diễn âm
Tự Đức Thánh chế tự học giải nghĩa ca.
Khiêm cungg kí.

Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca là một bộ sách quan trọng trong toàn bộ tác phẩm ông. Đây là bộ sách dùng để tự học chữ Hán và chữ Nôm.

Sách này do nhà vua biên soạn nhưng chưa kịp in khi ông còn sống. Đến năm Thành Thái thứ 8 (1896), phủ Phụ chánh phủ giao cho Sử quán kiểm định lại, hai năm sau (1898) thì đem khắc in. Việc này do Hoàng Hữu Xứng, Ngô Huệ Liên, Hoàng Hữu Bính phụ trách.

Tự học giải nghĩa ca cũng thuộc loại tự điển Hán Việt. Chữ Hán ghi trên, chữ Nôm chua dưới, có ghép vần thượng lục hạ bát, nhiều chỗ có chép chữ đôi và thêm chữ đệm cho khỏi túng vần. Chẳng hạn: mân trời thu, phiêu phiêu gió thổi, lưu lưu gió hòa, kiêu là chân bước cao, chí đạo bước trước bước sau vội vàng… Cách đặt vần kiểu này, sách Chí nam ngọc âm sử dụng trước đó rất lâu rồi, tuy vậy cũng thấy người soạn có chú ý tìm trong khi chọn chữ ghép vần.

Mục đích của tác giả là muốn phổ biến việc học chữ Hán và viết chính xác lối viết chữ Nôm. Nhưng vì sách làm dài, nhiều chữ khó, nghĩa khó hoặc ít dùng, nên tác dụng đạt được là ở chỗ góp phần làm chính xác được lối viết chữ Nôm. Về mặt ấy, sách Tự học giải nghĩa ca được coi là một tài liệu đáng quí khi người nghiên cứu so sánh để tìm hiểu quá trình phát triển và chuyển hóa của chữ Nôm.

Bộ sách gồm 13 quyển chia ra làm 7 môn loại:

1- Kham dư loại (loại về trời đất) quyển 1-2
2- Nhân sự loại (loại về con người) quyển 3-4-5
3- Chính hóa loại (Loại về chính trị và giáo hóa) quyển 6-7
4- Khí dụng loại (loại về các vật dụng) quyển 8-9
5- Thảo mộc loại (loại về cây cỏ) quyển 10-11
6- Cầm thú loại (loại về súc vật, chim muông) quyển 12
7- Trùng ngư loại (loại về côn trùng, tôm cá)

Quyển 1 viết:

Thiên trời, địa đất, vị ngôi,
Phúc che, tái chở, lưu trôi, mãn đầy
Cao cao, bác rộng, hậu dày,
Thần mai, mộ tối, chuyển xây, di dời.

Tác phẩm ông gồm nhiều thể loại (cả Nôm, Hán), mà ở loại nào cũng phong phú.

Thơ ông viết về nhiều chủ đề từ vịnh sử, vịnh vật, nhân tình thế thái rất đa dạng, phong phú.

Ngoài ra, ông còn ra lệnh cho Quốc sử quán soạn bộ Khâm định Việt sử.

Thơ văn bình luận về ông rất nhiều:

I
Thông minh nhưng chẳng biết tùy thời,
Nên nỗi giang sơn phút biến dời.
Tự đại thành ra lầm thế nước,
Quá thiên chẳng chịu xét tài người.
Trứng đem chọi đá khoe chi sức,
Máu chảy thành sông vạ khắp nơi,
Mang hận nghìn thu về chín suối.
So vua Minh Trị vực xa trời.
(Huyền Pho)

II
Tổng vịnh làm gương sử nước ta,
Thông minh nhưng chửa nghĩ cao xa.
Nghề văn ham chuộng quên nghề võ,
Thế chiến không xong dỡ thế hòa.
Trong nước chỉ vui thơ Lý, Đỗ,
Ngoài vòng nào biết chuyện Anh Nga.
Phú cường thẹn mấy năm châu nhỉ,
Để hận nghìn thu đất nước nhà.
(Đỗ Văn Bàn)

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..