[23]-Pháp đô hộ (1883-1945)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Nguyễn Khuyến

Tên khác Yên Đổ – Tất Thắng
Năm sinh Ất Mùi 1835 – Kỉ Dậu 1909
Tỉnh thành Hà Nam
Thời kì – Pháp đô hộ (1883-1945)

Nhà thơ hiệu Quế Sơn, trước tên là Thắng (có sách chép là Tất Thắng). Cháu 4 đời nến sĩ Nguyễn Lê, đời Hậu Lê, quê làng Yên Đỗ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

Năm Giáp tí 1864, ông đỗ giải nguyên, Tân mùi 1871 ông đỗ hoàng giáp lúc 36 tuổi. Vì từ thi Hương, thi Hội, thi Đình đều đỗ đầu và người làng Yên Đỗ (tục gọi làng Và), nên người đời gọi ông là Nghè Và hoặc Tam Nguyên Yên Đỗ.

Ông làm đến Trực học sĩ, sung chức toản tu ở Quốc sử quán. Ông là người có lòng yêu nước, khi giặc Pháp hoành hành, triều đình kí hàng ước (1883), ông cáo quan về nhà được phong làm Tham tri. Trước sau ông vẫn giữ niềm yêu nước, lòng trong sạch, khằng định thái độ không hợp tác vói giặc. Có lúc chúng cử ông làm Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên nhưng ông từ chối. Tuy nhiên tránh sự nghi kị của chúng vẫn cho con là Nguyễn Hoan ra làm quan, còn ông cũng có lúc ép lòng ngồi dạy học nơi nhà Hoàng Cao Khải một thời gian ngắn.

Ông có bài Tự trào (Tự giễu cợt mình):

Cũng chẳng giàu mà cũng chằng sang.
Chẳng gầy chẳng béo chỉ làng nhàng.
Cờ đương nửa cuộc không còn nước,
Bạc đánh ba quan đã chạy làng.
Há miệng nói ra gàn bát sách,
Mềm môi chén mãi tít cung thang.
Nghĩ mình lại gớm cho mình nhỉ?
Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng.

Nước mất, ông tự sỉ vả mình bất lực, coi quan chức chẳng ra gì nữa. Qua bài Me Mốc, Lời người vợ phường chèo, Lời gái góa (Li phụ từ, ưu phụ từ) càng rõ nỗi niềm cay đắng của ông.

Năm Kỉ dậu 1909 ông mất, thọ 74 tuổi.

Còn để lại các tác phẩm:

Quế Sơn thi tập (chữ Hán)
Yên Đỗ Tam nguyên quốc âm thi tập

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..