[23]-Pháp đô hộ (1883-1945)[24]-Nước Việt Nam mới (1945 - nay)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Nguyễn Đỗ Mục

Tên khác Trọng Hữu
Năm sinh Bính Dần 1866 – Kỉ Sửu 1949
Tỉnh thành Hà Tây
Thời kì – Pháp đô hộ (1883-1945)
– Nước Việt Nam mới

Nhà văn tự Trọng Hữu, quê làngThư Trai, huyện Thạch Thất, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc tỉnh Hà Tây).

Ông sinh trưởng trong một gia đình Nho học truyền thống, con Hoàng giáp Nguyễn Đình Dương. Xuất thân là ấm sinh (thân phụ từng làm án sát Hưng Yên, Bố chánh Quảng Bình, Biện lí bộ Lại) đậu tú tài khoa Kỉ dậu (1909) từng đi thi Hội nhưng không đỗ.

Sau năm 1908, ông cộng tác với Nguyễn Văn Vĩnh biên tập và trợ bút các báo Đông Dương tạp chí, Trung Bắc tân văn chuyên viết về các vấn đề giáo dục và dịch một số tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc. Ông là một trong vài người vào thời kì đầu khi chữ Quốc ngữ mới có tư thế trên diễn đàn văn học đã góp công giới thiệu được những tác phẩm văn học Trung Quốc rộng rãi đến công chúng.

Về phương diện biên khảo, ngòi bút ông có nhiều đặc sắc; nhất là quyển Chinh phụ ngâm khúc diễn giải đã gây nên tiếng vang trong sinh hoạt văn học.

Sau ngày Pháp tái chiếm Việt Nam, ông tham gia vào các tổ chức văn hóa cứu quốc ở chiến khu Việt Bắc. Theo một số tài liệu ông mất vào khoảng năm 1949 tại Thái Nguyên.

Ông là thân phụ họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung, một bực thầy của các thế hệ họa sĩ Việt Nam.

Các tác phẩm chính của ông:

Gõ đầu trẻ, Đông Dương tạp chí 1913-1914.
Tái sanh duyên, Hà Nội 1923 (dịch)
Thuyền tình bể ái, Hà Nội 1926
Hồng nhan đa truân, 1928 (dịch)
Bình Sơn Lãnh Yên, Hà Nội 1927
Khổng Tử gia ngữ (biên khảo)

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..