[23]-Pháp đô hộ (1883-1945)[24]-Nước Việt Nam mới (1945 - nay)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Nguyễn Chấn (Trần Văn Trà)

Tên khác Trần Văn Trà
Năm sinh Kỉ Mùi 1919 – Bính Tí 1996
Tỉnh thành Quảng Ngãi
Thời kì – Pháp đô hộ (1883-1945)
– Nước Việt Nam mới

Thượng tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, tác giả, tên thật là Nguyễn Chấn, quê xã Tịnh Long, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, trước Thế chiến II cư ngụ tại Sài Gòn.

Xuất thân trong một gia đình nông nghiệp, tuổi trẻ học Tiểu học tại Quảng Ngãi, Trường Kĩ nghệ thực hành Huế. Khi còn ngồi ở ghế nhà trường (1936) ông tham gia Đoàn Thanh niên Dân chủ Huế, sau đó (1938) gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.

Năm 1939 bị bắt giam tại nhà lao Thừa Thiên một thời gian ngắn thì được trả tự do. Năm 1941 lên Đà Lạt rồi vào hoạt động tại Sài Gòn, năm 1944, bị Pháp bắt một lần nữa.

Sau Cách mạng tháng 8 và Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) ông giữ chức ủy viên Khu bộ Việt Minh ở Sài GònKhu trưởng khu 8Phó Tư lệnh Nam Bộ.

Từ năm 1955-1962 ông tập kết ra miền Bắc, giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng QĐNDVNGiám đốc học viện Quân sự. Năm 1963 vào Nam làm Tư lệnh Quân giải phóng miền Nam, năm 1973 là Trưởng đoàn đại biểu Quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam trong Ban liên hiệp Quân sự bốn bên.

Sau ngày 30-4-1975 giữ chức Chủ tịch ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, năm 1978 được bổ nhiệm chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội cựu chiến binh Việt Nam…

Ông từng là ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại biểu Quốc hội khóa 6, ông được phong Trung tướng năm 1959, Thượng tướng năm 1974. Do công tác ông đảm trách nên được Nhà nước Việt Nam tặng nhiều huân chương cao quí, trong đó có Huân chương Hồ Chí Minh.

Ngoài một tướng lãnh, ông còn trước tác một số sách:

– Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm (gồm nhiều tập, mới in tập 5)
– Gởi người đang sống (1996)
– Mùa thu lịch sử (1996)
– Cảm nhận về xuân Mậu thân 1968 (1998)
Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm là hồi kí của ông mà cũng là bản tổng kết cuộc chiến tranh lâu dài nhất của nhân dân Việt Nam. Là một người có mặt từ những ngày đầu trong cuộc chiến tranh ấy ông (Tr.V.T.) có đủ điều kiện và khả năng trình bày lại những sự việc ấy qua tác phẩm. Sách do nhà xuất bản Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh xuất băn năm 1982, đầu sách có bài Lời nói đầu của tác giả: ‘ “Năm 1978, Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam chủ trương cán bộ đã công tác và chiến đấu ở các chiến trường ghi hồi kí của mình về cuộc chiến tranh chống Mĩ oanh liệt của dân tộc ta và đề nghị tôi viết về B2 trong mùa xuân thắng lợi lớn năm 1975: “B2 đã chấp hành nhiệm vụ của Trung ương giao thế nào? đã đóng góp gì vào mùa Xuân vẻ vang.

Vâng, cũng như các chiến trường trên toàn quốc, để làm tròn nhiệm vụ vinh quang của mình, B2 đã đóng góp không nhỏ vào chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Vùng đất B2, con người B2, đã tự hào xứng đáng là một bộ phận của Tổ quốc Việt Nam anh hùng, của dân tộc Việt Nam anh hùng. Nhớ lại và ghi về những sự việc xảy ra ở đây là một vinh dự và cũng là trách nhiệm của mọi cán bộ, chiến sĩ, mọi người của B2. Tôi đã nhận lời.

Nhưng tôi nghĩ sự đóng góp của B2, một chiến trường chủ yếu, không những chỉ là riêng lẻ những trận đánh, những cân gạo những cân đường, những con người đã ngã xuống, mà còn là những cái gì lớn hơn nhiều, có giá trị về chiến lược nghệ thuật tổ chức, bằng thực tế thúc đẩy quá trình thắng lợi cuộc chiến tranh, có tính chất góp phần vào chủ trương, đường lối của Trung ương nữa. Cũng không phải chỉ toàn là những chiến thắng hào hùng, mà còn cả những thất bại chua cay tạm thời, từng nơi, từng lúc, vì tất cả đó là sự thật và là những kinh nghiệm quí báu. Nó là những nốt nhạc không thể thiếu để dựng thành bản giao hưởng anh hùng thời đại. Vậy thì chỉ ghi lại một số sự việc của những ngày thắng lợi cuối cùng, dù là thắng lợi rất vĩ đại, cũng sẽ là một thiếu sót lớn. Muốn tạo được mùa xuân bừng sáng, không thể không trải qua mùa đông âm u; muốn có được mùa khô thắng lợi, không thể không trên cơ sở của mùa mưa năm truớc, chỉ nói về ngọn mà không nói gốc thì thật là khó nói, và nói sẽ không đúng.

Vì vậy tôi quyết định ghi lại những gì tôi biết và nhớ về B2 trong toàn bộ cuộc chiến tranh chống Mĩ lâu dài. Đây là một việc không đơn giản, phải mất nhiều thời gian suy nghĩ, tìm tòi tư liệu, gặp lại cán bộ cũ, về lại chiến trường xưa, tìm lại sự thật diễn biến hết sức trung thực… Phải nhờ nhiều anh em giúp sức, cộng tác, phải cộng trí nhớ của nhiều đồng chí trên nhiều cương vị, nhiều khu vực chiến trường. Nhưng tôi quyết tâm làm vì xem đó là trách nhiệm cuối cùng của mình về cuộc chiến tranh giải phóng, và cũng không thể trút cho ai, đối với B2, vùng đất mà tôi rất yêu quý vì hầu như suốt cuộc đời mình, sống và phục vụ ở đó từ những ngày hoạt động chính trị bí mật trước cách mạng tháng Tám cho tới thắng lợi hoàn toàn, thống nhất Tổ quốc và có lẽ tôi cũng sẽ chọn nằm xuống mãi mãi ở đây.

Tôi chia tập sách của mình thành năm đoạn:

Đoạn l: Từ hiệp định Genève năm 1954 tới phong trào Đổng khởi năm 1960.

Đoạn 2: Từ năm 1961 tới 1965, thời kì chống chiến tranh đặc biệt có kết quả.

Đoạn 3: Từ năm 1965 đến năm 1968 Đánh bại chiến tranh cục bộ của Mỹ.

Đoạn 4: Từ 1969 đến 1973 – chống Việt Nam hóa chiến tranh và đuổi quân Mĩ khỏi Việt Nam.

Đoạn 5: Từ Hiệp định Paris 1973 đến ngày toàn thắng (1973-1975).

Tôi bắt đầu viết về giai đoạn chiến lược cuối cùng, giai đoạn còn đang nóng hổi, (đoạn 5), vì nó phù hơp với yêu cầu của nhiều người, đặc biệt là anh em B2.

Nhưng B2 là gì? Cho đến nay có thể nhiều nguời cũng chưa rõ lắm. Để tiện bạn đọc dễ hiểu hơn những sự việc ghi lại, thiết tưởng tôi cần nói một vài nét về chiến trường B2.

“B2” là kí hiệu đế gọi của một vùng đất và những con người, ở phần phía nam tận cùng của Tổ quốc trong thời kì chiến tranh chống Mĩ. Cả Miền Nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 chạy dài về phía Nam, lúc ấy ta chia làm 4 chiến trường:

“B1” hay thường gọi là khu 5 gồm những tỉnh ven biển Miền Trung từ Quảng Nam – Đà Nẵng vào đến Phú Khánh, ngày nay.

“B3” là vùng Tây Nguyên bao gồm các tĩnh Gia Lai, Kontum, và Đắc Lắc.

“B4” là Quảng Trị và Thừa Thiên cũ.

“B2” là phần còn lại của Miền Nam từ tỉnh Gia Nghĩa cũ (một phần của tỉnh Đắc Lắc ngày nay), Lâm Đồng, Thuận Hải chạy vào tới mũi Cà Mau, Côn Sơn, Hà Tiên, Phú Quốc. Nó bao gồm vùng rừng núi bao la, cái đuôi của dãy Trường Sơn hùng vĩ. Từ những ngọn núi cao 1.500-2.000 mét ở bắc Đà Lạt, Lâm Đồng, hạ thấp dần xuống Miền Đông Nam Bộ. Tiếp ngay theo đó là vùng đồng bằng rộng rãi phì nhiêu, đông dân, vùng lưu vực sông Cửu Long, với những căn cứ kháng chiến nổi tiếng của ta từ xưa như: Rừng U Minh, Đồng Tháp Mười… Đây là một vùng địa hình bằng phẳng, trống trải, ẩm thấp, ruộng lúa xen kẽ vườn tược, xóm làng, bị chia cắt bằng những hệ thống sông lớn như Đồng Nai, Soài Rạp, Vàm Cỏ, Cửu Long và rất nhiều sông con, kinh, rạch. Có khu vực hầu như quanh năm ngập nước, hoặc sáu tháng nước, sáu tháng khô. Có nơi bốn mùa đều thiếu nước ngọt. Một bờ biển dài hàng ngàn kilômét và một thềm lục địa rộng, giàu tài nguyên thiên nhiên, với các cảng biển và cảng sông lớn như Vũng Tàu, Sài Gòn, Mĩ Tho, Cần Thơ, Rạch Giá… có lợi thế cho bọn giặc xâm lược từ đại dương vào. Hệ thống đường sá ở Nam bộ phát triển cao nhất trong toàn Miền Nam được Mĩ củng cố xây dựng để đảm báo và thích hợp với những cuộc hành quân cơ giới của chúng. Thủ đô Sài Gòn của ngụy quyền tay sai là thành phố lớn nhất, có lúc lên đến 4 triệu dân; là trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế của cả Miền Nam Việt Nam, nằm ngay giữa B2, liên kết với nhiều thành phố lớn khác như Đà Lạt, Phan Thiết, Biên Hòa, Tây Ninh, Mĩ Tho, Vĩnh Long, Cằn Thơ, Cà Mau, Rạch Giá thành một hệ thống căn cứ xuất phát hành quân của Mĩ – Ngụy đánh phá khắp nơi. Đó cũng là trung tâm áp dụng chính sách thực dân kiểu mới, nơi lan truyền cách sống Mĩ sa đọa, nơi tiêu dùng hàng hóa Mĩ phục vụ cho các đội quân viễn chinh đông đảo và cho lực lượng tay sai. Mĩ Ngụy tổ chức Miền Nam thành bốn vùng chiến thuật. Kể từ sông Bến Hải trở vào, tính là vùng 1 cho đến vùng 4 ở đồng bằng sông Cửu Long, Thành phố Sài Gòn nằm giữa vùng 3 chiến thuật, tổ chức thành biệt khu Thủ đô, nơi đầu não chỉ huy, là trung tâm bộ máy chiến tranh xâm lược của Mĩ – Ngụy.

Chiến trường B2 của ta chiếm khoảng 1/2 đất đai và khoảng 2/3 dân số của toàn Miền Nam, tương ứng với một phần vùng 2 và cả vùng 3 và vùng 4 của địch cộng lại.

Để tiện cho việc chỉ đạo, chỉ huy trong cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt, ta chia, B2 thành: Khu 6 (Phần cuối đất Trung bộ), Khu 7 (Miền Đông Nam Bộ), Khu 8 (Miền Trung Nam Bộ), Khu 9 (Miền Tây Nam Bộ) và thành phố Sài Gòn – Gia Định.

Cũng cần nói thêm là khoảng 3/4 biên giới giữa nước ta và Campuchia là nằm trên phạm vi B2. Nơi đó có các đường bộ, đường sông nối liền hai nước như các quốc lộ số 1, 22, 13, sông Cửu Long, Sở Thượng, Kênh Vĩnh Tế và các đường các sông nhỏ khác. Nhân dân hai nước từ xưa quan hệ tốt với nhau công việc làm ăn, buôn bán, quen biết, bà con… thường qua lại thuận lợi trên các đường sá sông rạch dọc biên giới. Và cũng từ xưa đến nay số phận hai dân tộc trên hai bờ biên giới khi nào cũng gắn bó nhau, cũng đấu lưng chiến đấu cho hạnh phúc chung của nhau, có vui cùng hưởng, có buồn cùng chia.

Vì vậy mà khiến cho lũ giặc căm tức lồng lộn để rồi mở rộng xâm lược, vươn nanh vuốt vào cả hai đất nước.

Con người B2 ngay thẳng, trung thực, tính tình phóng khoáng, vốn có nguồn gốc của ông cha xa xưa từ Miền Bắc, Miền Trung thân thiết, có lòng yêu nước nồng nàn; luôn luôn hướng về Bác Hồ muôn vàn kính yêu; hướng về thủ đô Hà Nội, Thăng Long với niềm tin bất diệt

Từ thuở mang gươm đi mở nước.
Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.

(Thơ Huỳnh Văn Nghệ một chỉ huy quân sự ở Nam bộ thời kì kháng chiến chống Pháp).

Con người B2 có niềm tự hào với những truyền thống quật cường cứu nước, cách mạng từ xưa như các phong trào chống Pháp của Nguyễn Trung Trực, Thiên hộ Dương, Đốc binh Kiều, Thủ Khoa Huân, Trương Định, có tâm hồn yêu nước, cương trực của Nguyễn Đình Chiểu… với “đám lá tối trời”, Cần Giuộc, Gò Công, với “Mười Tám Thôn Vườn trầu”, Hóc Môn, Bà Điểm… B2 còn ôm ấp chiến công hiển hách của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ trong “tiếng sóng Rạch Gầm”, còn lưu luyến thiết tha dấu vết người đã ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân, vị lãnh tụ Hồ Chí Minh anh minh ở thị xã Phan Thiết, ở Bến Nhà Rồng… Rồi bao nhiêu máu của những người đi trước đã đổ trong các phong trào Nam Kì khởi nghĩa năm 1940, cách mạng tháng 8 năm 1945… Tất cả những cái ấy luôn luôn nhắc nhở, thôi thúc người dân B2, sẵn sàng đứng lên một khi đã thức tỉnh hi sinh tất cả vì độc lập, tự do.

Viết những dòng suy nhỏ này, tôi chỉ mong làm tròn nghĩa vụ của một chiến sĩ được may mắn sống và hoạt động ở một thời đại vinh quang của Tổ quốc, của dân tộc, trước hết là nghĩa vụ đối với B2, đúng ra là với những con người của B2 mà tôi hằng yêu mến; những con người từ thành thị đến nông thôn, sống rải rác ở nmg núi, bưng biền hay tập trung ở các khóm phường, làng mạc. Đặc biệt là đối với những bạn bè; người thân; đồng chí; đồng đội, những người đã quen biết cũng như chưa hề quen biết, có quê hương khắp đất nước từ Lạng Sơn đến Mũi Cà Mau, đã ngã xuống trên đất B2, đã đem máu của mình nhuộm thắm từng tấc đất B2 để đổi lấy độc lập, tự do, đã hi sinh tất cả cho Bắc – Nam một nhà, cùng nhau xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là những con người có công to đối với thắng lợi vĩ đại vừa qua của dân tộc, của Tổ quốc. Đúng, chỉ có họ, những người không chút tính toán, hiến dâng trọn vẹn cuộc sống của mình là những người xứng đáng nhất cho con cháu nghìn đời sau mãi mãi ghi nhớ công ơn. Nghĩa vụ rất đỗi thiêng liêng ấy, mà cũng là mệnh lệnh của lịch sử, của nhân dân là ghi nhớ lại một cách trung thực, suy nghĩ một cách đúng đắn về những diễn biến; những sự kiện; những chịu đựng và hi sinh cao cả của mảnh đất và con người B2 mà tôi đã chứng kiến; được biết và còn nhớ.

Tất nhiên, do sự hiểu biết cũng như trình độ ghi chép có hạn, do phạm vi mỗi bài viết, mỗi tập sách chĩ có thể tập trung nói về một số vấn đề nào thôi, nên tiếc thay, tôi không thế nói hết ở đây những sự tích thần kì của những con người Việt Nam trên đất B2 đã thực hiện kiên quyết, dũng cảm và sáng tạo sự lãnh đạo và chỉ đạo tài tình của Trung ương Đảng trong suốt cuộc kháng chiến lâu dài và oanh liệt, đã đóng góp sức lực, tài trí của mình vào cuộc chiến thắng lịch sử. Tôi chỉ mong ghi lại chút ít sự tích ấy trong phạm vi hiểu biết của mình, để đóng góp phần suy nhớ của mình với những con người còn sống của ngày nay và của cả mai sau. Đó cũng là trả nợ được phần nào cho những người đã bỏ mình vì dân tộc, vì giai cấp trên đất B2.

Chính vì trách nhiệm nặng nề như vậy mà tôi đã tự đề ra cho mình một qui định: Viết đúng sự thật hoàn toàn, những sự thật có người đã biết cũng có người chưa hề biết, có người thích cũng như có người không. Vì lịch sử khi nào cũng công minh sẽ loại trừ không thương tiếc những gì sai sự thật, không hôm nay thì cũng ngày mai. Tôi mong rằng bạn đọc khắp nơi, nhất là anh em đã từng hoạt động ở chiến trường B2, góp ý kiến và bổ sung những thiếu sót, những gì chưa đạt. Tôi sẽ rất hãnh diện và hàm ân.

Mùa xuân 1980

Trần Văn Trà

Bài liên quan

35 nhận xét

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..