Người Sán Dìu (hoặc Sán Déo, Trại, Trại Đất, Mán quan cốc, San Déo Nhín, tiếng Trung: 山由族; bính âm: Shān yóu zú; Việt bính: saan1 jau4 zuk6; Hán Việt: Sơn Dao tộc) là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc tại Việt Nam sinh sống trên địa bàn miền trung du của một số tỉnh miền Bắc Việt Nam như Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Giang, Quảng Ninh…

Nguồn gốc

Dân tộc Sán Dìu là một dân tộc ít người di cư từ Quảng Đông, Trung Quốc sang Việt Nam từ những năm 1600. Đây là thời kỳ nhà Minh trị vì ở Trung Quốc. Có thể do sự xua đuổi của người Hán, chính quyền quân sự nhà Minh nên người Sán Dìu bỏ chạy, di cư đến Việt Nam nhằm bảo toàn tính mạng, huyết thống.

Ngôn ngữ

Người Sán Dìu nói tiếng Quảng Đông và sử dụng chữ Hán, thuộc nhóm ngôn ngữ Hán-Tạng, tuy nhiên người Sán Dìu được chính phủ Việt Nam phân loại là dân tộc riêng chứ không thuộc nhóm người Hoa.

Số lượng

Người Sán Dìu có dân số là 183.004 người năm 2019, 146.821 người năm 2009, 126.237 người năm 1999.

Địa bàn cư trú

Dân tộc Sán Dìu chủ yếu sống ở miền trung du các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Hải Dương (tổng cộng khoảng 97%). Một số di cư vào Tây Nguyên lập nghiệp, thành các làng hay sống rải rác tại các tỉnh thành khác.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, người Sán Dìu ở Việt Nam có dân số 183.004 người, có mặt tại 56 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Sán Dìu cư trú tập trung tại các tỉnh:

  • Thái Nguyên (56.477 người, chiếm 30,1% tổng số người Sán Dìu tại Việt Nam),
  • Vĩnh Phúc (46.222 người, chiếm 25,1% tổng số người Sán Dìu tại Việt Nam),
  • Bắc Giang (33.846 người),
  • Quảng Ninh (20.669 người),
  • Tuyên Quang (15.440 người),
  • Hải Dương (1.830 người)

Các đặc điểm cơ bản

Tổ chức cộng đồng

Người Sán Dìu ở thành từng chòm xóm nhỏ.

Nhà cửa

Nhà ở truyền thống của người Sán Dìu là nhà đất rất đơn giản. Ngày nay, người Sán Dìu đã làm nhà hiện đại và cầu kỳ hơn.

Trang phục

Phụ nữ Sán Dìu thường mặc váy và chiếc váy của người Sán Dìu là một trong những nét độc đáo mang tính riêng biệt của dân tộc. Váy màu đen, không khâu, gồm 2 hoặc 4 mảnh đính trên 1 cạp. Phụ nữ Sán Dìu thường quấn xà cạp bằng vải màu trắng hoặc màu nâu. Đồng bào hay đi dép quai ngang và guốc gộc. Tuy nhiên, ngày nay phụ nữ Sán Dìu cũng mặc quần, áo sơ mi và đi dép nhựa, giày da, giày vải như người Kinh. Trang sức của người Sán Dìu có vòng tay, vòng cổ, khuyên tai bạc.

Cưới xin

Người Sán Dìu có cách xem tuổi dựa theo thuyết ngũ hành. Nếu so tuổi thấy hợp, ông mối sẽ báo cho nhà gái biết việc xem lá số đã thành công bằng một lễ nhỏ gồm nải chuối, 10 lá trầu, 10 quả cau. Sau 10 ngày, nếu nhà gái không đồng ý sẽ đem lễ vật đến trả nhà trai, nếu đồng ý sẽ không có ý kiến gì. Từ đó, đôi trai gái có thể tự do đi lại tìm hiểu nhau. Đây cũng là thời gian để ông mối thông báo, hỏi ý kiến nhà gái về cuộc hôn nhân và báo cho nhà trai biết để chuẩn bị lễ ăn hỏi.

Lễ cưới của người Sán Dìu thường diễn ra trong ba ngày. Trước ngày cưới từ 15 đến 20 ngày, chọn ngày tốt, nhà trai nhờ người chặt tre đan rọ lợn, lồng gà. Giáp ngày cưới (sênh ca chíu).

Hai gia đình đã sinh thành hai cháu trưởng thành. Sự tìm hiểu của hai cháu đã thuận tình và được nhờ tổ ấm của gia đình, sự vun đắp của hai họ, hai gia đình đã chọn được ngày lành tháng tốt tổ chức lễ thành hôn cho hai cháu…

Đám cưới của người Sán Dìu không chỉ là sinh hoạt văn tinh thần, mà còn thể hiện tình cảm, đạo đức, lối sống, phép ứng xử giữa người với người, giữa con người với thiên nhiên…

Kinh tế

Người Sán Dìu chủ yếu làm ruộng nước, có phần nương, soi, bãi. Thêm vào đó còn có chăn nuôi, khai thác lâm sản, đánh bắt nuôi thả cá, làm gạch ngói, rèn, đan lát v.v.

Từ lâu đời, người Sán Dìu đã sáng tạo ra chiếc xe quệt (không cần bánh lăn) dùng trâu kéo để làm phương tiện vận chuyển. Hình thức gánh trên vai hầu như chỉ dùng cho việc đi chợ.

Ma chay

Người Sán Dìu địa tang nhất táng thiên thu, khi người mất được chôn cất trong quan, ngoài quách; có cải táng hay bốc mộ chỉ khi phải di rời dành đất đó cho xây dựng công trình phúc lợi xã hội. Đến ngày Thanh Minh hàng năm thì tảo mộ. Lễ tảo mộ thường là cá và cơm nếp (các loại cá). Ngoài ra có thể là thịt lợn, gà luộc… Trong mỗi mộ phải có 1 bộ cờ dây (5 cờ) được làm từ giấy với đủ loại màu khác nhau. với những mộ của người là thầy cúng thì con hoặc cháu cắm thêm cờ tam giác.

Văn hóa

Thơ ca dân gian của người Sán Dìu phong phú, dùng thơ ca trong sinh hoạt hát đối nam nữ (Soọng cô) rất phổ biến. Truyện kể – chủ yếu truyện thơ khá đặc sắc. Các điệu nhảy múa thường xuất hiện trong đám ma. Nhạc cụ có tù và, kèn, trống, sáo, thanh la, não bạt cũng để phục vụ nghi lễ tôn giáo. Nhiều trò chơi dân tộc được họ ưa thích là: đi cà kheo, đánh khăng, đánh cầu lông kiểu Sán Dìu, kéo co.

Trước đây trong các dịp lễ Tết, hội hè hoặc đi chơi xa, người đàn ông của dân tộc Sán Dìu thường mặc hai áo, áo trong màu trắng, áo ngoài màu đen. Đó là loại áo 5 thân, cổ áo cài khuy bên phải, áo dài quá gối, ống tay hẹp. Ngày nay trong dân tộc Sán Dìu, nam giới mặc quần áo giống hệt người Kinh với các kiểu quần Âu, áo sơ mi, đi giày da, dép nhựa…

Những người Sán Dìu có danh tiếng

Những người Sán Dìu Việt Nam có danh tiếng

Tên Sinh thời Hoạt động
Đỗ Văn Chiến 1962-… Ủy viên BCH TW Đảng CSVN khóa 12-13, Bí thư TW Đảng khóa 13, đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 14-15, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc (2016-2021), Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2021-) quê xã Ninh Lai, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Lưu Đức Long 1963-… Bác sĩ, Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 14 (2016-2021), quê xã Hợp Châu, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc
Leo Thị Lịch 1969-… Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 13, 14, 15 (2011-2026), quê xã Nam Dương, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Lưu Thị Chi Lan 1980-… Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 12, tỉnh Vĩnh Phúc
Hứa Thị Hà 1983-… Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 14 (2016-2021), quê xã Sơn Nam, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang
Lưu Xuân Thủy 1969-… Vụ Trưởng Vụ Dân Tộc Thiểu Số, Ủy ban Dân tộc của Chính phủ, quê xã Đạo Trù, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc

Tiếng Việt

  • “Dân tộc Hoa”: trang 388-395

Tiếng Anh

  • Chapter 13: Cross-Border Categories: Ethnic Chinese and the Sino-Vietnamese Border at Mong Cai
Nguồn: wikipedia.org
0 Shares:
Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You May Also Like
Chi tiết

Nguyễn Thị Sóc

Tên khác Hai Sóc Tỉnh thành TP Hồ Chí Minh Thời kì – Pháp đô hộ (1883-1945) Nhà…
Chi tiết

Trương Vĩnh Ký

Tên khác Sĩ Tải – Chánh Ký Năm sinh Đinh Dậu 1837- Mậu Tuất 1898 Tỉnh thành Bến…
Chi tiết

Lê Duy Quí

Tỉnh thành Không rõ Thời kì – Trịnh – Nguyễn (1533-1788) Con Lê Dụ tông, không rõ năm…
Chi tiết

Nguyễn Văn Lí

Tên khác Tuần Phủ – Đông Khê – Chí Hiên Năm sinh Ất Mão 1795 – Kỉ Tị…