Người Khmer tại Việt Nam (Khmer Krom) là bộ phận dân tộc Khmer ở Việt Nam, người Khmer là dân tộc bản địa sinh sống lâu đời nhất ở Đồng bằng Sông Cửu Long.

Người Khmer được công nhận là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam.

Tên gọi

Trong khi các thư tịch cũ của người Việt dùng danh từ Cao Miên (高棉) hay Cao Man (高蠻) để nói đến người Campuchia.

Chỉ thị số 117-CT/TƯ ngày 29 tháng 9 năm 1981 của Ban bí thư trung ương Đảng cộng sản Việt Nam và Chỉ thị số 122-CT ngày 12 tháng 5 năm 1982 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam về “Công tác đối với đồng bào Khmer” quy định thống nhất dùng tên gọi dân tộc Khmer, người Khmer, không được dùng những tên gọi không chính xác hoặc có hàm ý miệt thị hoặc dùng để miệt thị phân biệt như người Miên, người Việt gốc Miên, người Man v.v…. Khẳng định rằng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam chỉ có dân tộc Khmer còn các tên gọi khác là sai và không hợp lý. Lên án và phê phán những hành vi cố ý đùa giỡn nhằm mục đích miệt thị phân biệt của bất cứ cá nhân tổ chức nào.

Ngôn ngữ

Người Khmer Krom nói tiếng Khmer, một ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer trong ngữ hệ Nam Á và là ngôn ngữ chính thức của Campuchia.

Dân số và địa bàn cư trú

Ở Việt Nam, người Khmer là dân tộc bản địa có lịch sử định canh định cư rất lâu dài sống chủ yếu ở miền nam Việt Nam đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long thuộc các tỉnh, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, được gọi là Khmer Krom (có nghĩa là Hạ, Dưới trong tiếng Khmer) để phân biệt với người Khmer Campuchia.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, người Khmer ở Việt Nam có dân số 1.319.562 người, có mặt tại nhiều tỉnh ở Nam Bộ.

Sau đây là danh sách các tỉnh có nhiều người Khmer nhất:

  • Sóc Trăng (362.029 người, chiếm 30,7 % dân số toàn tỉnh và 31,5 % tổng số người Khmer tại Việt Nam).
  • Trà Vinh (318.231 người, chiếm 31,6 % dân số toàn tỉnh và 25,2 % tổng số người Khmer tại Việt Nam).
  • Kiên Giang (211.282 người, chiếm 12,5 % dân số toàn tỉnh và 16,7 % tổng số người Khmer tại Việt Nam),
  • An Giang (75.878 người),
  • Bạc Liêu (73.968 người),
  • Bình Dương (65.233 người).
  • Thành phố Hồ Chí Minh (50.422 người),
  • Cà Mau (26.110 người),
  • Đồng Nai (23.560 người)
  • Vĩnh Long (22.630 người),
  • Cần Thơ (19.683 người),
  • Bình Phước (19.315 người),
  • Hậu Giang (18.467 người),
  • Long An (9.980 người)
  • Tây Ninh (9.932 người)

Di truyền học

Người Khmer có bề ngoài điển hình của người Đông Nam Á, trông gần giống người Thái và người Lào. Người Khmer ở Việt Nam không thuần chủng, bề ngoài có nhiều nét khác nhau, đó là do kết quả của nhiều thế kỉ pha trộn với người Kinh, người Hoa,…

Tôn giáo

Hầu hết người Khmer ở Việt Nam là tín đồ Phật giáo Nam Tông Khmer – một kiểu Phật giáo hòa trộn nhiều thành phần của Ấn Độ giáo, thuyết vật linh (tục thờ cúng thần sông núi, cây cỏ…), và tục thờ cúng tổ tiên. Cụ thể hơn, Phật giáo của người Khmer là Phật giáo nguyên thủy, tên phổ thông là Phật giáo Nam tông.

Văn hóa

Cũng giống như người Khmer ở Campuchia người Khmer ở Việt Nam đều gìn giữ và phát huy nền văn hóa lâu đời của mình, một số lễ hội chính của người Khmer:

  • Lễ hội Pchum Ben (tên gọi ở Campuchia) hay lễ hội Sen Đôn ta (tên gọi theo người Khmer Krom ở đồng bằng Mekong). Đây là lễ báo hiếu ông bà, mang ý nghĩa gần giống với lễ Vu Lan ở Việt Nam. Đặc biệt trong lễ Sen Đôn ta ở vùng An Giang, hằng năm diễn ra một hoạt động rất nổi tiếng là lễ hội đua bò Bảy Núi.
  • Tết Chol Chnam Thmay là tết mừng năm mới của người Khmer thường bắt đầu vào tháng 4 dương lịch, ở các nước ảnh hưởng văn hoá Khmer và Phật giáo Ấn như Thái Lan, Lào, Miến Điện cũng có ngày tết tương tự. Trong tết có 3 ngày lễ chính, sẽ có 1 ngày gọi là ngày Songkran.
  • Ok-om-bok (lễ cúng trăng). Trong tháng lễ có các hoạt động đua ghe ngo truyền thống có quy mô lớn như tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng và vào ngày cuối cùng của đêm lễ Ok-om-bok sẽ diễn ra nghi thức thả đèn trời, thả hoa đăng.
  • Bon Om Touk (lễ đua ghe): diễn ra hàng năm vào ngày rằm tháng 11 trùng với cuối mùa mưa.
  • Các lễ hội Phật giáo:

  • Song-ka-tun (Trai Tăng)
  • Ka-thina (Dâng Y)
  • Maggha Bochea (Rằm tháng Giêng)
  • Vesakha Bochea (Rằm tháng Tư)
  • Vassa (An cư kiết hạ)
  • Xung đột vũ trang và vận động chính trị

    Cuối năm 1960 ở Nam Vang người Khmer Krom thành lập Mặt trận Giải phóng, chủ trương tấn công Việt Nam Cộng hòa . Chau Dera làm chủ tịch, với hai yêu sách chính:

    Ngày 27 Tháng 8, 1963 Norodom Sihanouk tuyên bố đoạn giao với Việt Nam Cộng hòa nhằm gây áp lực tranh đâú . Chính quyền Nam Vang còn giúp cơ sở vật chất và ngoại giao cho FLKK. Cuối năm 1963 lực lượng này sáp nhập với Mặt trận Giải phóng Champa và Mặt trận Giải phóng Kampuchea phía Bắc (Front de Libération du Kampuchea Nord FLKN) thành khối FULRO, mở rộng địa bàn hoạt động từ đồng bằng sông Cửu Long lên Cao nguyên Trung phần và đến tận Phú Yên .

    Sau năm 1975 vấn đề tranh chấp lãnh thổ giữa người Việt và người Khmer bị cuốn vào Chiến tranh Việt Nam-Campuchia giữa các lãnh tụ ở Hà Nội và Phnôm Pênh và tiếng nói người Khmer Krom lu mờ. Tuy nhiên sang thế kỷ 21 người Khmer Krom lại phát động phong trào đòi chính quyền Việt Nam phải tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tự do sắc tộc và công nhận địa vị tiên khởi của người Khmer Krom ở đồng bằng sông Cửu Long.

    Những nhân vật Khmer Krom nổi tiếng

    Những nhân vật Khmer Krom nổi tiếng

    Tên Sinh thời Hoạt động
    Sơn Ngọc Thành 1908-1977 Nhà hoạt động chính trị, một nhà dân tộc chủ nghĩa Campuchia.
    Sơn Ngọc Minh 1920-1972 Nhà hoạt động chính trị Campuchia, chủ tịch Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia.
    Ieng Sary 1924-2013 Phó thủ tướng kiêm Ngoại trưởng dưới thời Khmer Đỏ và được coi là nhân vật số 3 của Khmer Đỏ, sau Pol Pot và Nuon Chea. vừa bị toà án Liên Hợp Quốc xử tội diệt chủng với bản án chung thân
    Sơn Cang 1948-… Trung tướng Công an Nhân dân Việt Nam, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh 2.
    Sơn Minh Thắng 1960 – Chính trị gia, nguyên Bí thư Đảng ủy Khối các cơ quan trung ương, nguyên Thứ trưởng – Phó chủ nhiệm Ủy ban dân tộc của Chính phủ
    Kiên Rịnh 1964 – Thiếu tướng Công an Nhân dân Việt Nam, Phó Giám đốc Công an tỉnh Trà Vinh
    Trần Thị Hoa Ry 1976 – Nữ chính khách, Phó Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội, Đại biểu Quốc hội khóa X, XI, XII, XIV
    Thạch Phước Bình 1978 – Chính trị gia, Ủy viên Hội đồng dân tộc của Quốc hội khóa XIV, Đại biểu Quốc hội khóa XIV
    Hứa Văn Nghĩa 1967 – Đại tá, chính trị gia, Ủy viên Ủy ban Tư Pháp của Quốc hội khóa XIV, Đại biểu Quốc hội khóa XIV
    Lâm Văn Mẫn 1970 – Bí thư Tỉnh ủy Sóc Trăng, nguyên Chủ tịch HĐND tỉnh Sóc Trăng
    Lý Đức 1970 – Tu sĩ Phật giáo, chính trị gia, Đại biểu Quốc hội khóa XIV
    Châu Quỳnh Dao 1977 – Nữ chính trị gia, Đại biểu Quốc hội khóa XIV
    Thạch Kim Tuấn 1994 – Vận động viên Cử tạ
    Chương Thị Kiều 1995 – Nữ cầu thủ bóng đá

    Hình ảnh

    • Po Dharma. Champaka 7: Từ Mặt trận FLM đến phong trào FULRO. San Jose, CA: Office International of Champa, 2007.
    • 2013-04-01
    Nguồn: wikipedia.org
    0 Shares:
    Leave a Reply

    Your email address will not be published. Required fields are marked *

    You May Also Like
    Chi tiết

    Võ Trần Thiệu

    Tên khác Võ Trần Tự Năm sinh Bính Thân 1736 -… Tỉnh thành Hải Dương Thời kì –…
    Chi tiết

    Cao Văn Luận

    Năm sinh Mậu Thân 1908 – Bính Dần 1986 Tỉnh thành Hà Tĩnh Thời kì – Pháp đô…
    Chi tiết

    Dương Quang Đông

    Tên khác Dương Văn Phúc – Năm Đông Năm sinh Nhâm Dần 1902 – Quí Mùi 2003 Tỉnh…