[23]-Pháp đô hộ (1883-1945)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Ngô Huệ Liên

Năm sinh … – Nhâm Tí 1912
Tỉnh thành Hà Tĩnh
Thời kì – Pháp đô hộ (1883-1945)

Danh sĩ cận đại, con Quang lộc tự khanh Ngô Phùng, dòng dõi danh tướng Ngô Cảnh Hựu đời Hậu Lê. Quê làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.

Đậu cử nhân khoa Quí dậu (1873), từng làm đốc học Quảng Ngãi.

Đời Thành Thái (1888-1907), ông làm Tả tham tri bộ Lễ, Toản tu Quốc sử quán. Tại đây ông tham gia vào việc biên soạn bộ Đại Nam thực lục, phần Phàm lệ có một bài biểu của ông cùng các sử gia Trương Quang Đản, Nguyễn Thuật, Hoàng Hữu Xứng, Cao Xuân Dục…

Năm Mậu thân 1908, con ông là chí sĩ Ngô Đức Kế bị bắt giam ở nhà lao tỉnh Nghệ An, biết rằng con ông sẽ không thoát cảnh đi đày nơi xa, ông viết thư khuyên con nên tự quyết, trong thư có câu: “Dữ kì thân sinh ẩn nhẫn, chung vi dị địa chi tù, hạt nhược khảng khái thành nhân, du tác cố sơn chi quỉ.” (Nếu như ẩn nhẫn chờ ngày, không khỏi làm tù xứ khác, sao bằng liều mình khảng khái còn được làm ma đất nhà).

Trong cảnh đau xót, ông từ quan. Được vài năm ở ẩn tại quê nhà, rồi mất trong năm Nhâm tí 1912.

Phần lớn đời ông khi làm việc tại Quốc sử quán chỉ chuyên về trước tác sử học góp công sức vào việc hoàn thành các bộ sử của triều Nguyễn như Đại Nam thực lục (560 quyển) do đại thần Tổng tài Trương Đăng Quế chủ biên, ông (NHL) giữ chức toản tu (biên soạn và san định) từ đời Tự Đức đến đời Thành Thái. Tức từ phân Tổng mục Q. 1 (đệ ngũ kỉ) đến đệ lục kỉ gồm 11 quyển của bộ sử.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..