[22]-Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)[23]-Pháp đô hộ (1883-1945)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Ngô Chuân

Tên khác Ngô Lý – Ngô Trân
Năm sinh Quí Dậu 1873 – Kỉ Hợi 1899
Tỉnh thành Quảng Nam
Thời kì – Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)
– Pháp đô hộ (1883-1945)

Quan lại triều Nguyễn, còn có tên là Ngô Trân, Ngô Lý hoặc Ngô Chuân, quê làng Mông Lãnh, tổng Phú Xuân, huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam, cư ngu tại làng Cẩm Sa, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (Nay là xã Điện Nam huyện Điện Bàn cùng tỉnh).

Sinh trưởng trong một gia đình nghèo ở nông thôn, mồ côi cha từ lúc còn nhỏ, thân mẫu phải rời quê ở Quế Sơn ra ngụ cư ở làng Cẩm Sa, huyện Điện Bàn, được mẹ chăm sóc việc học rất chu đáo.

Năm 1894 đậu cử nhân khoa Giáp ngọ đời Thành Thái thứ 6 lúc 21 tuổi. Đến khoa thi Hội Mậu tuất năm Thành Thái thứ 10 đậu Phó bảng. Riêng khoa thi Hội năm này tỉnh Quảng Nam có 5 thí sinh trúng tuyển, vua Thành Thái có tặng cho 5 vị tân khoa này tấm biển ghi 4 chữ Ngũ phụng tề thi‘ (Năm con phượng cùng bay).

Năm vị tân khoa này là ông và:

– Tiến sĩ Phạm Liệu (hương nguyên 1872 – 1936)
– Tiến sĩ Phan Quang (1873-1939)
– Tiến sĩ Phạm Tuấn (1852-1917)
– Phó bảng Dương Hiền Tiến (1866 – 1907)

Trong lễ vinh qui Tổng đốc Đào Tấn (1845-1907) đang trấn nhậm Quảng Nam có thơ tặng các vị tân khoa. Riêng 2 ông phó bảng, Đào Tấn tặng bài thơ:

“Giang sơn thành thục dị tài đa,
Tam quế tề khai nhất dạng hoa.
Cánh hữu Quảng hàn cung ngoại khách,
Do tương thế bát tả Hằng Nga.”

Bản dịch:

Non sông hun đúc lắm tài hoa,
Một loạt ba bông nở đậm đà.
Cung Quảng ngoài hiên còn khách đợi,
Trộm đem bút mực vẽ Hằng Nga

Sau khi đỗ đại khoa một thời gian, ông được bổ chức hành tấu rồi tri huyện huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, ông bệnh mất tại chức trong năm 1899.

Khi ông qua đời chí sĩ Trần Quí Cáp (1870-1908) khóc ông.

“Nhất hoạn diêu diêu an năng xã trâm hốt ư bách linh phụng thần hôn vu vạn lí;
Bình sanh lỗi lỗi ý kì hóa trường tùng chi thiên xích sản linh chi nhi cửu hình”.

Nghĩa:

Xa xôi quan đất khách không thể rờì trâm hốt trăm năm để phụng thần hôn muôn dặm;
Lỗi lạc tính trời sinh, có lẽ hóa trường tùng ngàn thước hoặc trổ linh chi chín chồi.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..