Loading

Long An

Tháng Chín 4, 2022| VTr
Long An
Tỉnh
Tỉnh Long An

Một góc thành phố Tân An
Hành chính
Quốc gia Việt Nam
Vùng
  • Đồng bằng sông Cửu Long (địa lý)
  • Vùng đô thị Thành phố Hồ Chí Minh (đô thị)
Tỉnh lỵ Thành phố Tân An
Trụ sở UBND Số 61 Đường Nguyễn Huệ, Phường 1, Thành phố Tân An
Phân chia hành chính 1 thành phố, 1 thị xã, 13 huyện
Thành lập
  • 1705: mở xứ Vũng Gù
  • 1900: thành lập tỉnh Tân An
  • 1956: thành lập tỉnh Long An
Đại biểu quốc hội
  • Lê Thị Song An
  • Nguyễn Tuấn Anh
  • Phan Thị Mỹ Dung
  • Nguyễn Thanh Hải
  • Hoàng Văn Liên
  • Trần Quốc Quân
  • Lê Tấn Tới
  • Nguyễn Hoàng Uyên
Tổ chức lãnh đạo
Chủ tịch UBND Nguyễn Văn Út
Hội đồng nhân dân 60 đại biểu
Chủ tịch HĐND Nguyễn Văn Được
Chủ tịch UBMTTQ Trương Văn Nọ
Chánh án TAND Lê Quốc Dũng
Viện trưởng VKSND Đinh Văn Sang
Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Được
Địa lý
Tọa độ:
Bản đồ tỉnh Long An
Diện tích 4.494,79 km²
Dân số (2021)
Tổng cộng 1.725.800 người
Thành thị 316.500 người (18,34%)
Nông thôn 1.409.300 người (81,66%)
Mật độ 384 người/km²
Dân tộc Việt, Khmer, Hoa…
Kinh tế (2020)
GRDP 138.198 tỉ đồng
GRDP đầu người 80,079 triệu đồng
Khác
Mã địa lý VN-41
Mã hành chính 80
Mã bưu chính 85xxxx
Mã điện thoại 272
Biển số xe 62
Website

Long An là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. Là địa phương nằm ở cửa ngõ của vùng Đồng bằng sông Cửu Long liền kề với Thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 2021, Long An là đơn vị hành chính Việt Nam đông thứ 13 về số dân, trong danh sách đơn vị hành chính Việt Nam theo GRDP, xếp thứ 12 về tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 14 về GRDP bình quân đầu người. Với 1.763.754 người dân GRDP đạt 138.198 tỉ đồng, GRDP bình quân đầu người đạt gần 81 triệu đồng , tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 9,41%.

Long An là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ với khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nhất là có chung đường ranh giới với Thành phố Hồ Chí Minh, bằng hệ thống các quốc lộ: 1, 50, 62, N1, N2 (Đường Hồ Chí Minh). Tỉnh được xem là thị trường tiêu thụ hàng hóa nông sản lớn nhất của Đồng bằng Sông Cửu Long.

Địa lý

Vị trí, địa hình

Tỉnh Long An thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, có tọa độ địa lý từ 105030′ 30 đến 106047′ 02 kinh độ Đông và 10023’40 đến 11002′ 00 vĩ độ Bắc, cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 45 km theo Quốc lộ 1, có vị trí địa lý:

  • Phía đông và đông bắc giáp Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh
  • Phía tây và tây bắc giáp giáp tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Prey Veng, Vương quốc Campuchia
  • Phía nam giáp tỉnh Tiền Giang
  • Phía bắc tỉnh Svay Rieng, Vương quốc Campuchia.

Dù được xếp vào vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng Long An nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Sở hữu vị trí địa lý khá đặc biệt bên cạnh đó còn thuộc vùng kinh tế trọng điểm Nam bộ, Long An được xác định là vùng kinh tế động lực có vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam.

Trước năm 1975, tỉnh Long An (không bao gồm các huyện thị thuộc vùng Đồng Tháp Mười ngày nay) thuộc vùng Đông Nam Bộ. Hiện nay, dù được xếp vào vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng Long An là phần đất chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, nên địa hình có xu hướng thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Phía Bắc và Đông Bắc tỉnh có một số gò đồi thấp; giữa tỉnh là vùng đồng bằng và phía Tây Nam tỉnh là vùng trũng Đồng Tháp Mười, trong đó có khu rừng tràm ngập phèn rộng 46.300 ha.

Các điểm cực của tỉnh:

  • Điểm cực bắc tại xã Hưng Điền A, huyện Vĩnh Hưng
  • Điểm cực nam tại xã An Lục Long, huyện Châu Thành, Long An
  • Điểm cực đông tại xã Tân Tập, huyện Cần Giuộc
  • Điểm cực tây tại xã Hưng Điền, huyện Tân Hưng.

Địa chất, thủy văn

Tỉnh có 6 nhóm đất chính, nhưng phần lớn là dạng phù sa bồi lắng lẫn nhiều tạp chất hữu cơ, cấu tạo bở rời, tính chất cơ lý kém, nhiều vùng bị chua phèn và tích tụ độc tố.

Địa hình Long An bị chia cắt nhiều bởi hệ thống sông và kênh rạch chằng chịt với tổng chiều dài lên tới 8.912 km, sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây hợp thành sông Vàm Cỏ, kênh Dương Văn Dương,… trong đó lớn nhất là sông Vàm Cỏ Đông.

Long An chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều từ biển Đông qua cửa sông Soài Rạp. Thời gian một ngày triều là 24 giờ 50 phút, một chu kì triều là 13 – 14 ngày. Vùng chịu ảnh hưởng của triều nhiều nhất là các huyện phía Nam Quốc lộ 1, đây là nơi ảnh hưởng mặn từ 4 đến 6 tháng trong năm. Triều biển Đông tại cửa sông Soài Rạp có biên độ lớn từ 3,5 đến 3,9 m, đã xâm nhập vào sâu trong nội địa với cường độ triều mạnh nhất là mùa khô. Biên độ triều cực đại trong tháng từ 217 đến 235 cm tại Tân An và từ 60 đến 85 cm tại Mộc Hoá. Do biên độ triều lớn, đỉnh triều mùa gió chướng đe doạ xâm nhập mặn vào vùng phía nam. Trong mùa mưa có thể lợi dụng triều tưới tiêu tự chảy vùng ven hai sông Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây làm giảm chi phí sản xuất.

Bị ngập mặn chủ yếu là từ biển Đông qua cửa sông Soài Rạp do chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều. Trước đây, sông Vàm Cỏ Tây mặn thường xâm nhập trên Tuyên Nhơn (huyện Thạnh Hoá) khoảng 5 km. Mặn xâm nhập bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 6 với mức 2 đến 4 gam/lít. Đất phèn tập trung với 2084,49 km2, chiếm 69,8% diện tích toàn vùng Đồng Tháp Mười và bằng 46,41% diện tích tự nhiên của tỉnh. Lũ thường bắt đầu vào trung tuần tháng 8 và kéo dài đến tháng 11, mưa tập trung với lưu lượng và cường độ lớn nhất trong năm gây khó khăn cho sản xuất và đời sống. Lũ đến tỉnh Long An chậm và mức ngập không sâu.

Khí hậu

Long An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ẩm. Do tiếp giáp giữa 2 vùng Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ cho nên vừa mang các đặc tính đặc trưng cho vùng đồng bằng sông Cửu Long lại vừa mang những đặc tính riêng biệt của vùng miền Đông.

Nhiệt độ trung bình hàng tháng 27,2 – 27,7 °C. Thường vào tháng 4 có nhiệt độ trung bình cao nhất 28,9 °C, tháng 1 có nhiệt độ trung bình thấp nhất là 25,2°C.

Lượng mưa hàng năm biến động từ 966–1325 mm. Mùa mưa chiếm trên 70-82% tổng lượng mưa cả năm. Mưa phân bổ không đều, giảm dần từ khu vực giáp ranh Thành phố Hồ Chí Minh xuống phía tây và Tây Nam. Các huyện phía Đông Nam gần biển có lượng mưa ít nhất. Cường độ mưa lớn làm xói mòn ở vùng gò cao, đồng thời mưa kết hợp với cường triều, với lũ gây ra ngập úng, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của dân cư.

Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm là 80 – 82%. Thời gian chiếu sáng bình quân ngày từ 6,8 – 7,5 giờ/ngày và bình quân năm từ 2.500 – 2.800 giờ. Tổng tích ôn năm từ 9.700 – 10.100 °C. Biên độ nhiệt giữa các tháng trong năm dao động từ 2-4 °C.

Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 có gió Đông Bắc, tần suất 60 – 70%. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 có gió Tây Nam với tần suất 70%.

Tỉnh Long An nằm trong vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo có nền nhiệt ẩm phong phú, ánh nắng dồi dào, thời gian bức xạ dài, nhiệt độ và tổng tích ôn cao, biên độ nhiệt ngày đêm giữa các tháng trong năm thấp, ôn hòa.

Những khác biệt nổi bật về thời tiết khí hậu như trên có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội và sản xuất nông nghiệp.

Lịch sử

Các di chỉ khảo cổ học cho thấy, ngay từ thời cổ đại, Long An đã là địa bàn quan trọng của vương quốc Phù Nam – Chân Lạp. Khi Nguyễn Hữu Cảnh vào khai phá miền Nam, đất Long An thuộc phủ Gia Định. Thời Minh Mạng, đất Long An thuộc tỉnh Gia Định và một phần tỉnh Định Tường. Đầu thời Pháp thuộc, Nam Kỳ được chia thành 21 tỉnh, đất Long An nằm trong địa bàn 2 tỉnh Tân An và Chợ Lớn.

Dân số tỉnh Long An 1967
Quận Dân số
Bến Lức 46.877
Bình Phước 86.206
Cần Đước 83.631
Cần Giuộc 86.082
Rạch Kiến 40.527
Tân Trụ 36.157
Thủ Thừa 48.212
Tổng số 427.702

Ngày 22 tháng 10 năm 1956, chính quyền Sài Gòn lập tỉnh Long An trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh Chợ Lớn và Tân An. Tỉnh lỵ đặt tại Tân An, về mặt hành chánh thuộc xã Bình Lập, quận Châu Thành.

Ngày 24 tháng 4 năm 1957, tỉnh Long An bao gồm 7 quận như sau:

  • Quận Bến Lức có 2 tổng với 12 xã.
  • Quận Đức Hòa có 2 tổng với 13 xã.
  • Quận Cần Đước có 3 tổng với 16 xã.
  • Quận Cần Giuộc có 4 tổng với 24 xã.
  • Quận Châu Thành có 3 tổng với 15 xã.
  • Quận Thủ Thừa có 2 tổng với 9 xã.
  • Quận Tân Trụ có 2 tổng với 12 xã.

Ngày 3 tháng 10 năm 1957, quận Châu Thành đổi tên thành quận Bình Phước.

Ngày 3 tháng 3 năm 1959, lập quận mới Đức Huệ, gồm 3 xã.

Ngày 7 tháng 2 năm 1963, đổi tên quận Cần Đước thành quận Cần Đức, quận Cần Giuộc thành quận Thanh Đức.

Ngày 15 tháng 10 năm 1963, tách 2 quận Đức Hòa, Đức Huệ nhập vào tỉnh Hậu Nghĩa.

Ngày 17 tháng 11 năm 1965, đổi tên quận Cần Đức thành quận Cần Đước, quận Thanh Đức thành quận Cần Giuộc như cũ.

Ngày 7 tháng 1 năm 1967, lập mới quận Rạch Kiến, gồm 9 xã.

Sau năm 1975, quận Bình Phước đổi về tên cũ là Châu Thành, quận Rạch Kiến giải thể.

Năm 1976, tỉnh Long An hợp nhất với tỉnh Kiến Tường và 2 quận Đức Hòa, Đức Huệ của tỉnh Hậu Nghĩa thành tỉnh Long An mới. Toàn bộ đất của tỉnh Kiến Tường cũ trở thành huyện Mộc Hoá của tỉnh Long An. Cùng năm, xã Bình Lập, huyện Châu Thành được tách ra để thành lập thị xã Tân An – thị xã tỉnh lỵ tỉnh Long An. Tỉnh Long An bao gồm gồm thị xã Tân An và 9 huyện: Bến Lức, Cần Đước, Cần Giuộc, Châu Thành, Đức Hòa, Đức Huệ, Mộc Hoá, Tân Trụ, Thủ Thừa.

Ngày 11 tháng 3 năm 1977, hợp nhất 2 huyện Thủ Thừa và Bến Lức thành huyện Bến Thủ, hợp nhất 2 huyện Tân Trụ và Châu Thành thành huyện Tân Châu.

Ngày 30 tháng 3 năm 1978, chia huyện Mộc Hoá thành hai huyện: Mộc Hoá và Vĩnh Hưng.

Ngày 19 tháng 9 năm 1980, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 298-CP, chia huyện Mộc Hoá thành 2 huyện: Mộc Hoá và Tân Thạnh, đổi tên huyện Tân Châu thành huyện Vàm Cỏ.

Ngày 14 tháng 1 năm 1983, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 05-HĐBT, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh Long An như sau:

  • Chia huyện Bến Thủ thành 2 huyện: Bến Lức và Thủ Thừa.
  • Mở rộng thị xã Tân An trên cơ sở nhập 3 xã của huyện Vàm Cỏ và 3 xã của huyện Bến Thủ, với tổng điện tích tự nhiên 7.794 ha.

Ngày 4 tháng 4 năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 36/HĐBT, chia huyện Vàm Cỏ thành 2 huyện: Châu Thành và Tân Trụ.

Ngày 26 tháng 6 năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 74/HĐBT, thành lập huyện Thạnh Hóa từ một phần các huyện Mộc Hóa và Tân Thạnh.

Ngày 24 tháng 3 năm 1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 27-CP, chia huyện Vĩnh Hưng thành 2 huyện: Vĩnh Hưng và Tân Hưng.

Ngày 24 tháng 8 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 38/NQ-CP, thành lập thành phố Tân An trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Tân An.

Ngày 18 tháng 3 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 33/NQ-CP, thành lập thị xã Kiến Tường trên cơ sở điều chỉnh 20.428,20 ha diện tích tự nhiên và 64.589 nhân khẩu của huyện Mộc Hoá.

Ngày 5 tháng 9 năm 2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1140/QĐ-TTg công nhận thành phố Tân An là đô thị loại II.

Tỉnh Long An có 1 thành phố, 1 thị xã và 13 huyện như hiện nay.

Hành chính

Tỉnh Long An có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 13 huyện với 188 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 12 phường, 15 thị trấn và 161 xã.

Tên Thành phố
Tân An
Thị xã
Kiến Tường
Huyện
Bến Lức
Huyện
Thủ Thừa
Huyện
Cần Giuộc
Huyện
Cần Đước
Huyện
Châu Thành
Huyện
Tân Trụ
Huyện
Đức Hòa
Huyện
Đức Huệ
Huyện
Thạnh Hóa
Huyện
Tân Thạnh
Huyện
Mộc Hóa
Huyện
Vĩnh Hưng
Huyện
Tân Hưng
Diện tích (km²) 81,73 204,36 287,86 299,1 215,1 220,49 155,24 106,36 425,11 428,92 467,86 422,85 299,95 378,12 501,88
Dân số2021 (người) 147.449 45.171 184.936 99.320 219.653 195.604 111.835 69.603 352.099 67.026 56.700 79.455 28.366 52.612 53.925
Mật độ (người/km²) 1.804 221 642 332 1.021 887 720 654 828 156 121 188 95 139 107
Phân chia hành chính 9 phường, 5 xã 3 phường, 5 xã 1 thị trấn, 14 xã 1 thị trấn, 11 xã 1 thị trấn, 14 xã 1 thị trấn, 16 xã 1 thị trấn, 12 xã 1 thị trấn, 9 xã 3 thị trấn, 17 xã 1 thị trấn, 10 xã 1 thị trấn, 10 xã 1 thị trấn, 12 xã 1 thị trấn, 6 xã 1 thị trấn, 9 xã 1 thị trấn, 11 xã
Năm thành lập 2009 2013 1957 1922 1864 1909 1922 1952 1913 1959 1989 1980 1917 1978 1994
Loại đô thị (Năm công nhận) II (2019) IV (2009)

Kinh tế

Nổi tiếng với nhiều sản phẩm nông nghiệp như gạo tài nguyên, gạo nàng thơm Chợ Đào, rượu Đế Gò Đen, dưa hấu Long Trì, dứa Bến Lức, đậu phộng Đức Hòa, mía Thủ Thừa, thanh long Châu Thành,… Đặc biệt, lúa gạo chất lượng cao là sản phẩm nông nghiệp chủ lực phục vụ xuất khẩu.

Công nghiệp đạt khoảng 50% giá trị trong nền kinh tế tỉnh, được biết đến với những sản phẩm như dệt may, thực phẩm chế biến, xây dựng… Trong bảng xếp hạng về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Việt Nam năm 2018, tỉnh Long An xếp ở vị trí thứ 2 trong 13 tỉnh miền Tây và thứ 3 cả nước.

Giá trị sản xuất công nghiệp cả năm 2019 ước đạt 315.200 tỷ đồng. Tổng sản phẩm GRDP ước đạt 123.000 tỷ đồng. Thu ngân sách đạt 18.000 tỷ đồng.

Xã hội

Y tế

Đến ngày 05 tháng 11 năm 2008, hệ thống y tế của tỉnh bao gồm: 1 bệnh viện tuyến tỉnh, 11 bệnh viện tuyến huyện, 8 phòng khám khu vực và có 183/188 xã, phường, thị trấn có trạm y tế. Năm 2009, tỉnh Long An có 211 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 16 bệnh viện, 5 phòng khám đa khoa khu vực, và 190 trạm y tế phường xã, tổng số giường bệnh là 2.807 giường, trong đó các bệnh viện có 1.980 giường, phòng khám đa khoa khu vực có 95 giường, trạm y tế có 732 giường.

Theo thống kê về y tế năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh có 211 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 16 bệnh viện, 5 phòng khám đa khoa khu vực, 190 trạm y tế phường xã, với 3.332 giường bệnh và 751 bác sĩ, 1.034 y sĩ, 907 y tá và khoảng 455 nữ hộ sinh.

Giáo dục

Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh có hơn 500 trường học ở cấp phổ thông trong đó trung học phổ thông có 48 trường, trung học cơ sở có 122 trường, tiểu học có 246 trường, bên cạnh đó còn có 183 trường mẫu giáo. Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh Long An cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh. Hệ thống trường tiêu biểu như:

Trường Chính trị Long An (1005, QL.1, phường Tân Khánh, TP. Tân An, Long An – Tel: 0272 3511 574)

Hệ thống trường Đại học:

  • Trường Đại học Kinh tế Công nghiệp Long An (Quốc lộ 1, Khánh Hậu, TP. Tân An)
  • Trường Đại học Tân Tạo (Khu công nghiệp Tân Đức, xã Đức Hòa Hạ 824, Đức Hòa, Long An)

Hệ thống trường Cao đẳng:

  • (trường công lập – 60 QL1, phường 5, TP. Tân An, Long An)
  • Trường Cao đẳng Sư phạm Long An (trường công lập –  QL1, Khánh Hậu, TP. Tân An, Long An)
  • (trường tư thục – 164 Châu Thị Kim, phường 3, TP. Tân An, Long An)

Trung cấp:

  • (277, Quốc lộ 1, Voi Lá, thị trấn Bến Lức, Bến Lức, Long An)
  • (93 QL62, phường 6, TP. Tân An, Long An)
  • Trường Trung cấp Phật học Long An
  • Trường Trung cấp Nghề Đồng Tháp Mười (QL62, phường 3, thị xã Kiến Tường, Long An)

Ngoài ra, Long An còn có xây dựng thêm rất nhiều trường trung học phổ thông, cơ sở, tiểu học và rất nhiều trường mầm non trong địa bàn toàn tỉnh nhằm đáp ứng nhu cầu về giáo dục cho người dân.

Dân số

Tính đến ngày 9 tháng 11 năm 2021, dân số toàn tỉnh Long An đạt 1.763.754 người, mật độ dân số đạt 392 người/km². Tỷ lệ đô thị hóa tính đến năm 2021 đạt 24%.

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, toàn tỉnh Long An có 36 dân tộc cùng 110 người nước ngoài sinh sống. Trong đó dân tộc kinh có 1.672.776 người, người Hoa có 3.801 người, 9.980 người Khơ Me cùng nhiều dân tộc khác, …

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, Toàn tỉnh Long An có 11 Tôn giáo khác nhau chiếm 163.710 người. Trong đó, nhiều nhất là đạo Cao Đài với 70.991 người, thứ 2 là Công giáo 53.607 người, thứ 3 là Phật giáo với 47.226 người cùng các tôn giáo ít người khác như Đạo Tin Lành có 6.660 người, Phật giáo Hòa Hảo có 4.226 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 440 người, Hồi Giáo có 430 người, Bửu Sơn Kỳ Hương có 43 người Minh Sư Đạo và Minh Lý Đạo mỗi đạo có 38 người, ít nhất là Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa với chỉ 11 người.

Văn hoá

Long An có nhiều di tích lịch sử từ cổ tới kim, nổi bật là văn hóa Óc Eo tại Đức Hòa, đền thờ Nguyễn Huỳnh Đức tại Tân An, Chùa Tôn Thạnh ở Cần Giuộc và Nhà trăm cột tại Cần Đước. Hiện tỉnh có khoảng 186 di tích lịch sử, có 16 di tích được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia và 63 di tích được xếp hạng cấp tỉnh.

Di tích lịch sử

Danh sách các Di tích tại tỉnh Long An
Danh sách di tích lịch sử cấp Quốc gia
  • Lăng Mộ và đền thờ ông Nguyễn Huỳnh Đức
  • Chùa Tôn Thạnh.
  • Nhà trăm cột.
  • Di tích Vàm Nhựt Tảo
  • Cụm di tích Bình Tả
  • Chùa Phước Lâm
  • Di tích lịch sử Bình Thành.
  • Di tích lịch sử căn cứ Xứ ủy và Ủy ban hành chính kháng chiến Nam Bộ (1946-1949)
  • Di tích kiến trúc nghệ thuật Cụm nhà cổ Thanh Phú Long
  • Di tích khảo cổ học Rạch Núi.
  • Di tích lịch sử Ngã tư Đức Hòa.
  • Di tích nghệ thuật đình Vĩnh Phong
  • Di tích khảo cổ học Gò Ô Chùa.
  • Di tích lịch sử Ngã Tư Rạch Kiến.
  • Di tích lịch sử khu lưu niệm Nguyễn Thông
  • Di tích lịch sử Nhà và lò gạch Võ Công Tồn
  • Danh sách di tích lịch sử cấp Tỉnh
  • Rạch Bà Kiểu
  • Khu vực Cầu Kinh
  • Ngã ba mũi tàu
  • Khu vực sân banh Cần Giuộc
  • Khu vực Gò Sáu Ngọc
  • Khu lưu niệm Nguyễn Thái Bình
  • Đình Chánh Tân Kim
  • Miếu Bà Ngũ Hành
  • Chùa Thới Bình
  • chùa Thạnh Hòa
  • Khu vực Xóm Nghề
  • Đồn Rạch Cát
  • Dinh tổng Thận
  • Chùa Linh Sơn (chùa Núi)
  • Nhà bảo tàng Long An
  • Phong tục tập quán

    Long An còn có các lễ hội như lễ Kỳ Yên, lễ cầu mưa, lễ tống phong với nhiều trò chơi dân gian như đua thuyền, kéo co, đánh vật, có khả năng thu hút được nhiều khách du lịch. Các nghề thủ công truyền thống của tỉnh như nghề chạm gỗ (Cần Đước, Bến Lức), nghề kim hoàn (Phước Vân), nghề đóng ghe (Cần Đước), nghề làm trống (Tân Trụ),…

    Các lễ hội là một phần trong văn hóa và đời sống xã hội của Long An như: Kỳ Yên, lễ hội cầu mưa và Tòng Phóng. Du khách sẽ hết sức thú vị với mô hình du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười, nghe đờn ca tài tử cải lương – một loại hình dân ca đặc sắc của Nam Bộ mà Long An là chiếc nôi của dòng dân ca này.

    Thể thao

    • Câu lạc bộ bóng chuyền Bình Điền Long An là một đội bóng chuyền nữ đang thi đấu tại Giải vô địch bóng chuyền quốc gia Việt Nam
    • Câu lạc bộ bóng chuyền Long An là một đội bóng chuyền nam đang thi đấu tại Giải vô địch bóng chuyền quốc gia Việt Nam
    • Câu lạc bộ bóng đá Long An đang thi đấu tại Giải bóng đá hạng nhất quốc gia (Việt Nam).

    Giao thông

    Long An là cửa ngõ nối liền Đông Nam Bộ với đồng bằng sông Cửu Long, có chung đường ranh giới với Thành phố Hồ Chí Minh. Hệ thống giao thông kết nối tỉnh với khu vực khá hoàn chỉnh, bao gồm đường bộ lẫn đường thủy.

    • Các tuyến quốc lộ – cao tốc:
      • Hiện hữu: 1, 50, 62, đường Hồ Chí Minh, đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương.
      • Dự kiến: 50B (Đường động lực TPHCM – Long An – Tiền Giang), N1, Đường cao tốc Bến Lức – Long Thành, Đường Vành đai 3, Đường Vành đai 4.
    • Các tuyến đường tỉnh được đánh số từ 816 – 840.

    Ngoài hệ thống giao thông đường bộ Long An cũng là tỉnh có hệ thống giao thông đường thủy chằng chịt với các tuyến giao thông như sông Vàm Cỏ Đông, sông Vàm Cỏ Tây, sông Rạch Cát (sông Cần Giuộc). Các tuyến đường thủy quan trọng như Thành phố Hồ Chí Minh – Kiên Lương, Thành phố Hồ Chí Minh – Cà Mau, Thành phố Hồ Chí Minh – Tây Ninh đều qua Long An theo kênh Nước Mặn, sông Rạch Cát, sông Vàm Cỏ Đông. Các loại phương tiện vận tải thủy trên 100 tấn có thể theo các kênh rạch như Phước Xuyên, Dương Văn Dương, Trà Cú, Kinh Xáng, sông Bến Lức, sông Rạch Cát, kinh Thủ Thừa… đi từ miền Tây đến Thành phố Hồ Chí Minh.

    Dọc theo tuyến biên giới ở Long An, hiện nay có 5 cửa khẩu, bao gồm:

  • Mỹ Quý Tây (Xòm-Rông) – Đức Huệ
  • Hưng Điều A (Đức Huệ)
  • Bình Hiệp (Prây-Vo) – Thị xã Kiến Tường
  • Vàm Đồn – Vĩnh Hưng
  • Kênh 28 – Vĩnh Hưng
  • Ngoài ra, còn có 5 điểm trao đổi hàng hoá khác như Voi Đình, Sóc Rinh thuộc huyện Đức Huệ, Tà Lọt thuộc huyện Mộc Hoá, Rạch Chanh, Tàu Nu, Cây Trâm Dồ thuộc huyện Vĩnh Hưng.

    Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê năm 2008, khối lượng vận chuyển hành khách của tỉnh là 38,5 triệu lượt người, khối lượng luân chuyển hành khách đạt 1176,8 triệu lượt người/km, khối lượng vận chuyển hàng hoá đạt 12.972,0 nghìn tấn (đường bộ đạt 4.147 nghìn tấn, đường thủy đạt 8.798 nghìn tấn), khối lượng luân chuyển hàng hoá đạt 483,2 triệu tấn/km (đường bộ đạt 51,9 triệu tấn/km, đường thủy đạt 431,3 triệu tấn/km).

    Biển số xe

    • Thành phố Tân An: 62-B1
    • Huyện Tân Hưng: 62-C1
    • Huyện Vĩnh Hưng: 62-D1
    • Huyện Tân Thạnh: 62-E1
    • Huyện Thạnh Hoá: 62-F1
    • Huyện Thủ Thừa: 62-G1
    • Huyện Tân Trụ: 62-H1
    • Huyện Châu Thành: 62-K1
    • Huyện Cần Đước: 62-L1
    • Huyện Cần Giuộc: 62-M1
    • Huyện Bến Lức: 62-N1
    • Huyện Đức Hòa: 62-P1-P2
    • Huyện Đức Huệ: 62-S1
    • Thị xã Kiến Tường: 62-U1
    • Huyện Mộc Hoá: 62-T1
    • Xe máy dưới 50 cm³: 62AB
    • Xe phân khối lớn trên 175 cm³: 62-A1
    • Biển số xe ô tô: 62A, 62B, 62C, 62D, 62LD.
    Nguồn: wikipedia.org
    Categories: 63 Tỉnh Thành, Tây Nam Bộ, Việt Nam, Vùng

    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

    Rating*

    Hỗ trợ