[23]-Pháp đô hộ (1883-1945)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Lê Cơ

Năm sinh Kỉ Tị 1870 – Mậu Ngọ 1918
Tỉnh thành Quảng Nam
Thời kì – Pháp đô hộ (1883-1945)

Chí sĩ yêu nước cận đại, tục gọi là xã Sáu (vì ông làm lí trưởng), quê làng Phú Lâm, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kì, tỉnh Quảng Nam.

Ông người hoạt bát, khảng khái, cha là Lê Tuân là một gia đình vọng tộc trong vùng. (ông Lê Tuân và mẹ Phan Châu Trinh – Lê Thị Trung – là anh em ruột).

Năm Canh thìn 1900 thi Hương đậu tú tài, Quí mão 1903 ông bị tri phủ Tam Kì buộc làm lí trưởng. Nhân khi ấy có phong trào Duy tân, ông nhận chức làng để thực hành phong trào này. Khi nhận chức lí trưởng ông bảo “Túng bất năng hành chi thiên hạ, do khả nghiệm chi nhất hương” (Dầu không làm cho thiên hạ, thì cũng thí nghiệm trong một làng)

Nhận chức lí trưởng, ông thực thi các chủ trương của phong trào Duy tân do Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quí Cáp… đề xướng với các mục tiêu:

– Tổ chức sinh hoạt xã hội tại làng Phú Lâm làm thí điềm gọi là tam thập xã thôn.

– Mở trường dạy chữ Quốc ngữ, chữ Pháp (trường nữ học và nữ giáo viên).

– Mở thương cuộc.

– Lập nông hội: trồng tiêu, quế, chè theo phương pháp mới.

– Lập công hội: dựng lò rèn, làm hàng tiểu thủ công nghiệp…

– Mặc âu phục, hớt tóc ngắn…

Năm Bính ngọ 1906, ông cùng Phan Châu Trinh ra Bắc gặp Hoàng HoaThám, rồi sang Trung Quốc, Nhật Bản tìm hiểu tình hình chính trị nước Nhật và thương thảo với Phan Bội Châu. Cuối năm về nước lãnh đạo các cơ sở thực hành duy tân cả khu vực Nam Quảng Nam.

Nhân một lần bốn viên chánh tổng địa phương đang kì thuế mà tổ chức ăn chơi có hát bội, ai cũng phải đi mừng bằng tiền, ông phản đối bằng cách đi mừng một đôi liễn:

“Tổng tắc thuế vị thanh, sưu vị liễu, lợi vị hưng, hại vị trừ, hà sở lạc?
Xã tắc lão bất an, ấu bất học, nam bất canh, nữ bất chức, yên dụng ca?”

Nghĩa:

Tổng thì thuế chưa xong, xâu chưa hết, lợi chưa hưng, hại chưa trừ, vui gì vậy!
Xã thì già chẳng an, trẻ chẳng học, trai chẳng cày, gái chẳng dệt, hát làm chi

Do đó, bọn cường hào và chính quyền địa phương rất căm ghét ông.

Năm Mậu thân 1908, phong trào Duy tân phát triển rầm rộ bằng các cuộc biểu tình lớn từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, tay sai Nam triều và thực dân khủng bố trắng, ông bị bắt giam ở nhà lao Hội An (Quảng Nam) đến năm Tân hợi 1911 mới được trả tự do.

Năm Bính thìn 1916, ông cùng Trần Cao Vân, Thái Phiên, Phan Thành Tài…

vận động, tổ chức và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân. Dự định khởi nghĩa thành công. Việt Nam sẽ có một cơ chế gọi là Việt Nam quân chính phủ hay Tân Việt Nam, trong đó ông sẽ giữ chức “Ngự tiền hộ giá đại tướng quân kiêm Tổng đốc Nam Ngãi lưỡng quảng”, Phan Thành Tài gia chức Kinh lược. Lúc đó ông cùng Thái Phiên chỉ huy nghĩa quân đánh đồn Mang Cá để liên lạc với một đại tá người Đức đang chỉ huy một toán quân đóng ở đó.

Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông cùng Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu đưa vua Duy Tân ra khỏi kinh thành, nhưng sau đó bị bắt ở Hà Trung (phía Nam thành Huế).

Thái Phiên, Trần Cao Vân bị xử tử, ông và các đồng chí khác lưu đày Lao Bảo (thuộc tỉnh Quảng Trị).

Năm Mậu ngọ 1918, nhân một vụ phản kháng bọn lính đàn áp tù nhân, ông bị cai ngục thảm sát bằng súng cùng một lần với tú tài Dương Thường, Lê Nhung…

Tương truyền khi bị bắn ông chết đứng, một hồi lâu mới ngã.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..