[23]-Pháp đô hộ (1883-1945)[24]-Nước Việt Nam mới (1945 - nay)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Lâm Tấn Phác

Tên khác Đông Hồ – Thủy Cổ Nguyệt – Đại Ẩn Am – Nhị Liễu
Năm sinh Bính Ngọ 1906 – Kỉ Dậu 1969
Tỉnh thành Kiên Giang
Thời kì – Pháp đô hộ (1883-1945)
– Nước Việt Nam mới

Nhà thơ, tác giả hiện đại Việt Nam, tên thật là Lâm Tấn Phác và có nhiều bút hiệu: Thủy Cổ Nguyệt, Đại Ẩn Am, Nhị Liễu Tiên sinh. Quê làng Mĩ Đức, tỉnh Hà Tiên (nay thuộc thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang). Thuở nhỏ ông vốn tên là Kì Phác, đăng kí hộ tịch là Tấn Phác, sớm mồ côi cha mẹ, nhờ bác ruột là Lâm Hữu Lân nuôi dạy. Ông bác đặt tiểu tự cho ông là Quốc Tỉ, tự là Trác Chi.

Xuất thân là giáo học, ông chuyên nghiên cứu tiếng Việt, nhiệt tình với văn hóa dân tộc. Ít lâu, vì bất mãn với chế độ giáo dục của thực dân, ông bỏ dạy, viết báo: Tạp chí Nam phong (Hà Nội), Phụ nữ tân văn, Đông Pháp thời báo, Việt dân, Mai (Sài Gòn), Tri Tân, Bách Khoa, Tân văn, Tin Văn, Văn hóa nguyệt san

Từ năm 1926 – 1934 ông thành lập “Trí Đức học xá” chủ trương chuyên dạy Việt văn, cổ động người Việt tin tưởng ở tương lai tiếng Việt.

Năm 1935, ông cho xuất bản tuần báo Sông ở Sài Gòn, báo được vài mươi số, phải đình bản, ông trở về Hà Tiên sinh sống và chuyên tâm vào công tác nghiên cứu văn học miền Nam.

Năm 1945, trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông có tham gia một thời gian, nhưng sức yếu, ông rời Hà Tiên lên Sài Gòn. Đến năm 1950, ông sáng lập nhà xuất bản Bốn Phương, năm 1953 xuất bản tập san Nhân loại. Đây là một tờ báo tiến bộ vào thời đó ở Sài Gòn.

Đến năm 1964, ông ngưng việc xuất bản, lui về ẩn dật tại “Quỳnh Lâm thư thất” ở vùng ngoại ô Gia Định. Năm 1965, ông được mời làm giảng viên phụ trách môn Văn học miền Nam tại trường Đại học Văn khoa Sài Gòn.

Ngay từ thời trẻ tuổi, ông đã nổi tiếng với bài kí Linh Phượng tức Trác Chi lệ kí tập và bài phú Đông Hồ.

Ông mất ngày mùng 8-2 năm Kỉ dậu (25-3-1969) trong lúc đang diễn giảng ở giảng đường Đại học Văn khoa Sài Gòn.

Ông còn để lại các tác phẩm:

Thơ Đông Hồ (1932)
Lời hoa (1934)
Linh Phượng (1934)
Cô gái xuân (1934)
Những lỗi thường lầm trong Quốc văn (1936)
Hà Tiên thập cảnh (1960)
Trinh trắng (1961)
Truyện Song Tinh (1962)
Bội lan hành (1969)
Úc viên thi thoại (1969)
Đăng đàn (1969)
Dòng Cổ Nguyệt (1969)
Văn học miền Nam (1970)
Chi lan đào lí
Đào lí xuân phong

Ông qua đời, nhiều nơi và các tổ chức văn hóa đều có tổ chức lễ truy điệu ông.

Văn học miền Nam, hay Văn học Hà Tiên là một công trình dài hơi của ông. Nhà xuất bản Quỳnh Lâm, Sài Gòn, 1970. Sách có Lời Bạt của G.S Thanh Lang:

“Lịch sử Việt Nam là lịch sử của cuộc Nam tiến liên tục.

Nhưng nếu lịch sử Việt Nam chỉ giản dị là lịch sử một cuộc Nam tiến điều mà ai nấy đều đã công nhận rồi thì có lẽ cũng chẳng có gì đáng nói cho lắm. Và nếu như dân tộc Việt Nam chỉ biết có đi, đi mải miết xuống phía Nam, mà không nghĩ đến có lúc, có ngày trở lui, thì có lẽ dân tộc ta đã bị tiêu diệt, hòa đồng, trà trộn, mất lẫn vào trong đám thổ dân rồi.

Thiên tài của Việt Nam, cái làm nên sức trường tồn và phát triển của Việt Nam thiết yếu ở tinh thần phân công.

Sứ mạng của Miền Bắc là kết tụ sự sung mãn để đổ dồn về phương Nam, đánh chiếm các lân bang và đồng hóa họ, mở mang bờ cõi, biên thùy cho đến tận cùng bờ biển phương Nam.

Sứ mạng của Miền Nam tức những người Bắc khi đã Nam tiến và thiết lập được cơ sở ở phương Nam rồi là quay trở lui, nhìn ra Bắc để đem sức sống tươi trẻ vun xới, bồi đắp, sửa sang và trang trí cho miền Bắc. Thực vậy, nếu lịch sử Bắc Việt là lịch sừ của cuộc Nam tiến, thì đồng thời lịch sử Nam Việt cang là lich sử của những cuộc Bắc tiến, để sửa sai và thống nhất đất nước quê hương. Hồi đất nước chia đôi vì nạn Nam Bắc triều, tức đời Lê Mạc, thì Trịnh Nguyễn đã từ Nam, cất quân Bắc tiến, tiêu diệt nhà Mạc để trung hưng nhà Lê, thống nhất sơn hà năm 1592. (…) Thật vậy từ thế kỉ XVII trở lại đây, mọi sáng kiến về văn hóa đều là công của người miền Nam. Thiên Chúa giáo vào Việt Nam từ đất nước Đàng Trong.

Chữ Quốc ngữ cùng với ảnh hưởng của Tây phương đã phôi thai ở Đàng Trong, tức ở miền Nam từ đầu thế kỉ XVII, rồi từ đẩy mới tràn ra Đàng Ngoài, tiến ra đất Bắc.

Các cuốn Tự điển đầu tiên đều là công của Đàng Trong, tức của miền Nam, như Tự điển của De Rhode (1651), Tự điển của Taberd (1838), Tự điển của Paulus Của (1895), nhưng những cuốn Tự điển hoàn hảo nhất, nhưng cũng muộn màng nhất lại là công của miền Bắc, xuất hiện mãi sau năm 1930.

Chữ Quốc ngữ được công nhận và phổ biến trước nhất ở miền Lục tỉnh vào cuối thế kỉ XIX, nhưng đã được chứng kiến sự cực thịnh ở đất Bắc vào đầu thế kỉ XX.

Báo chí với văn xuôi xuất hiện trước hết ở miền Nam với Gia Định báo năm 1865, nhưng phải đợi đến Đông Dương tạp chí (1913), Nam Phong tạp chí (1917), và Phong Hóa (1932), báo chí và văn xuôi mới đi vào con đường cực thịnh ở miền Bắc.

Tiểu thuyết mới phôi thai ở miền Nam với Trương Vĩnh Ký năm 1867, với Huỳnh Tịnh Của năm 1880, đặc biệt với Hồ Biểu Chánh năm 1912, nhất là từ năm 1922, nhưng lại giành sự cực thịnh cho miền Bắc vào năm 1932-1933 với Tự Lực Văn Đoàn.

Sân Khấu Việt Nam đã được đổi mới tại miền Nam từ năm 1923 với sự xuất hiện của tuồng hát Cải lương, nhưng phải đợi đến sau năm 1932, với sự nhúng tay của nghệ sĩ Thăng Long mới vươn tới mức hoàn thiện.

Thơ mới xuất hiện năm 1932 từ miền Nam Lục tỉnh trên Phụ nữ Tân văn của Bà Nguyễn Đức Nhuận với bài “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ” của Phan Khôi rồi với sự tiếp tay của các chà thơ miền Nam như Nguyễn Thị Manh Manh, Hồ Văn Hảo rồi sau đây Nàng Thơ Mới mới tìm được nguồn thơ thực sự dồi dào từ sau năm 1934 ở miền Bắc với Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Thông…

Tân nhạc, tức nhạc chịu ảnh hưởng Tây phương cũng xuất phát từ Nam Kì vào khoảng năm 1937 đang khi miền Bắc mãi sau năm 1945 mới theo nhạc mới, nhưng rồi lại tiên phong đưa tân nhạc tới chỗ cực thịnh vào những năm 1947 – 1952.

Như vậy, chúng ta thấy, về phương diện văn hóa, đặc biệt về phương diện văn chương nghệ thuật, công đầu, công khai sáng, công khởi xướng… vẫn là công của Nhà văn hóa miền Nam, của Văn nghệ sĩ Đàng Trong, đặc biệt là của văn giới miền Lục tỉnh. (…)

Đông Hồ là người bạn miền Nam, miền Cực Nam, tức miền Hà Tiên, mà tôi đã gặp. Hai chúng tôi san sẻ quan điểm của nhau, tôi yêu quí tôn kính Đông Hồ cực độ, và Đông Hồ thương mến tôi cũng không có biên giới.

Đông Hồ, đã chẳng phải chỉ là một ông giáo giảng mấy bài học về Văn chương miền Nam, mà Đông Hồ đã đưa ra hẳn một triết lí dân tộc về ý nghĩa của danh từ MIỀN NAM, một triết lí văn chương về ý nghĩa danh từ Văn Học Miền Nam.

Tác phẩm Văn Học Miền Nam hay đúng hơn tác phẩm Văn Học Hà Tiên mà nữ sĩ Mộng Tuyết cho xuất bản đây là một chứng tích của tinh thần Đông Hổ.

Đông Hồ thường nói câu này với tôi:

“Người Bắc thuần thành không phải là người giương đông kích tây khinh miệt người Nam mà là người ý thức được vai trò lịch sử Nam tiến của Tổ tiên mình để mà yêu mến, gìn giữ bảo trì lấy miền Nam. Còn người Nam chính cống không phải là người kì thị xung đột với người Bắc mà là người ý thức được sứ mạng lịch sử truyền thống của cha ông mình để mà trở lui, nhìn ra phía Bắc như là nhìn vê quê nhà và nếu nhà nát tan thì phải quay về để mà tái thiết xây dựng lại nó. Trong công cuộc kiến quốc, xây dựng quê hương, mỗi miền có một vai trò, mỗi địa phương có một sứ mạng. Nếu người Bắc có cái tài tế nhị, khéo léo, làm giỏi, làm xong và hoàn thành những công trình vĩ đại thì người miền Nam lại có cái công nghĩ ra trước, tra tay vào việc, khởi công lúc đầu. Công nào cũng quí không thể bảo bên nào hơn. Trời đã thiên bẩm cho nguời của cả hai miền để hai miền bổ túc cho nhau, xây dựng cho nhau.

Đáng lẽ Đông Hồ phải viết lại những dòng tâm sự này để mà đúc kết cho thiên nghiên cứu Văn Học Miễn Nam hay Văn Học Hà Tiên của ông, nhưng Đông Hồ đã ra đi vội vã, cho nên tôi đã được cái hân hạnh, nhân danh là bạn của Đông Hồ, viết bài bạt hay là mấy lời thay lời bạt như là để kết luận cho thiên nghiên cứu công phu của Đông Hồ, hay đúng hơn là để bày tỏ tinh thần cao cả của nhà thơ miền nhiều hồ của đất nước Hà Tiên, đồng thời cũng để khóc bạn nhân Lễ giỗ đầu Lễ giỗ đầu Thanh Lãng.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..