CHƯƠNG 25: CÁI CHẾT CỦA MỘT NỀN VĂN MINH

Georges Roux

Trần Quang Nghĩa dịch

Cách đây không quá lâu, thành phố vĩ đại mà ta vừa mô tả nằm chôn vùi dưới một lớp đất dày, như mọi thị trấn và làng mạc của Iraq cổ đại. Đây đó trên các mô gò này có thể trông thấy một viên gạch có khắc một loại chữ không học giả nào có thể đọc được. Về các đài tưởng niệm nghệ thuật, các tuyệt phẩm văn chương, các công trình khoa học sản sinh ở Mesopotamia trong 3,000 năm lịch sử, thực sự không có gì được biết. Văn minh Mesopotamia đã chết và bị quên lãng, và thậm chí ngày nay không ai, khi đối mặt với các phế tích hoang vu nhất, có thể không cầm lòng mà phải tự hỏi khi nào, thế nào và tại sao nó chết đi.

Nếu người Ba Tư đã thanh toán với Babylon như người Medes và Babylonia đã thanh toán với Nineveh thì sẽ không có vấn đề gì. Vùng Cận Đông cho ta, ngoài Assyria, những mình họa khác về các quốc gia và các nền văn hóa biến mất gần như qua một đêm, nạn nhân của các cuộc chiến hủy diệt – vương quốc Hittite của Boghazkoy, Urartu và Phrygia, chẳng hạn. Nhưng người Ba Tư không tàn phá Babylon, họ cũng không tán phá các tỉnh lỵ khác của Babylonia, và một số đài tưởng niệm và bảng khắc có niên đại từ các thời kỳ Achaemenian, Hellenistic và Parthian minh chứng cho sự sống sót một phần của nền văn minh Mesopotamia tận thế kỷ 1 CN. Thế thì nó dần dần suy thoái và rồi biến mất thế nào?

Dường như có hai nguyên do chính tại sao câu hỏi quan trọng này chưa nhận được sự quan tâm đúng mức. Một mặt nó bao gồm ba lĩnh vực riêng biệt của nghiên cứu học thuật. Các sử gia về vùng Cận Đông thuộc Semitic, nhà Do Thái học hoặc nhà Assyria học được đào tạo, tất nhiên là miễn cưỡng khi xâm lấn vào lĩnh vực nghiên cứu Hy Lạp hoặc Iran mà họ không hoàn toàn thông thạo, trong khi nhà Hy Lạp học và Iran học, đánh vật với các vấn đề rộng lớn hơn, có xu hướng xem Mesopotamia như là một đề tài bên lề vượt quá phạm vi bình thường của công việc mình. Trái lại, sự suy thoái và sụp đổ của một nền văn minh ở bất cứ đâu trên thế giới luôn là một tiến trình phức tạp, phụ thuộc vào nhân tố đa tầng về chính trị, sắc tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, kinh tế và thậm chí địa lý, mà trong trường hợp đặc biệt này, cũng thường vượt khỏi tầm hiểu biết của chúng ta. Dù sao đi nữa, chúng ta cảm thấy rằng, đã mô tả dài dòng bằng cách nào văn minh Mesopotamia được sinh ra, ít ra chúng ta cũng nên nỗ lực xem xét nó đã chết thế nào. Trước hết hãy đi tiếp một ít thế kỷ tiếp theo sau niên đại 539 TCN định mệnh đó, khi Babylonia đánh mất nền độc lập mãi mãi, chúng ta sẽ đưa ra tại đây một ghi chép cô đọng về lịch sử Mesopotamia trong ba thời kỳ bị nước ngoài thống trị:

  • Thời kỳ Achaemenian (Ba Tư) (539 – 331 TCN)
  • Thời kỳ Hellenistic (Hy Lạp) (331 – 126 TCN).
  • Thời kỳ Parthian (126 TCN – 227 CN)

Thời Kỳ Achaemenian

Đối với nhiều người Babylonia việc người Ba Tư chinh phục xứ sở họ có thể giống như một thay đổi triều đại. Ngay sau khi Babylon bị đánh chiếm, cuộc sống giữa hai sông Tigris và Euphrates vẫn diễn ra với nhịp điệu bình thường, và công việc làm ăn được tiến hành như trước, điều khác biệt duy nhất là bây giờ các hợp đồng được ghi ngày tháng theo năm trị vì của ‘Kurash (tức Cyrus), Vua Babylon, Vua các Vùng Đất’, thay vì theo năm của  Nabû-na’id. Chính quyền Babylonia đầu tiên được giao cho vị tướng lĩnh trước kia của Nabonidus, Gobryas, nhưng vào Nisan 538 TCN con trai của Cyrus, Cambyses (Kambuziya) ‘cầm tay của thần Bel’ trong Lễ hội Tân Niên và từ đó trở đi xem như là phó vương, đặt bản doanh tại Sippar và một bộ tham mưu gồm các quan chức bản địa. Vào năm 528 TCN sau khi Cyrus bị tử trận trên một chiến trường ở xa, Cambyses, đã là thế tử, lên ngôi trở thành Vua Ba Tư. Chúng ta có rất ít thông tin liên quan đến thời kỳ này, trừ ra việc các binh sĩ Babylonia đăng ký vào Quân đội Ba Tư và tham gia chiến dịch chinh phục Ai Cập, nhưng dù có bao nhiêu sự thật trong câu chuyện về hành tung điên dại của vị vua ở thung lũng sông Nile, thì dường như chắc chắn Babylonia hưởng được thái bình trọn vẹn suốt thời trị vì của ông.

Cái chết của Cambyses, vào đầu năm 522 TCN, đánh dấu kết thúc của tuần trăng mật này. Bardiya, em trai ông, người đã soán ngôi, bị đánh bại và bị giết 8 tháng sau đó bởi Darius; nhưng mặc dù Darius thuộc huyết thống hoàng tộc – ông là hậu duệ của Ariaramnes và do đó thuộc dòng họ Achaemenian – quyền hành của ông ngay lập tức bị thử thách. Một vài satraps (thống đốc Ba Tư) được Cyrus bổ nhiệm từ khước việc tuân phục vị vua mới, trong khi một Phraortes thứ hai ở Media (xứ sở người Medes) và một Bardiya giả ở Ba Tư tập kết được nhiều người hậu thuẫn. Người Babylonia, trước đây thường ngoan ngoãn, giờ nhanh chóng tham gia nổi dậy, bởi vì trong số họ có những người mà trong tim họ ngọn lửa tự do còn bốc cao. Trong một dòng chữ hình nêm dài gồm ba ngôn ngữ – Ba Tư cổ, Babylonia, Elam – được khắc  trên núi đá tại Behistun (gần Kermanshah) để tưởng niệm các thắng lợi của Darius trước các kẻ thù, chính nhà vua Ba Tư kể cho chúng ta bằng cách nào một người Babylonia tự xưng mình là Nidintu-Bêl chiêu mộ được một quân đoàn bằng cách tuyên bố mình là ‘Nebuchadrezzar, con trai của Nabonidus’ và chiếm vương quyền ở Babylon. Darius đich thân hành quân đánh y, đuổi người Babylonia dọc sông Tigris và dọc sông Euphrates và truy kích đến tận kinh đô, tại đó y bị bắt sống và bị hành hình. Theo các biên bản có ghi ngày tháng, ‘Nebuchadrezzar III’ trị vì từ tháng 10 đến 12 năm 522 TCN. Vào tháng 8 năm 521, trong khi Darius đang chiến đấu dành ngôi vua ở Media và Ba Tư, người Babylonia ‘phá vỡ hưu chiến lần thứ hai’. Tên giả danh – người cũng tuyên bố mình là  ‘Nebuchadrezzar, con trai của Nabonidus’ – là một người ‘Armenia’ (Urartu) tên là Arakha, con trai của Haldita. Để chống lại y Darius phái một tướng lĩnh của minh, Vindafârna:

‘Ta nói với y: “Tiến lên! Đánh tan đám quân Babylonia không xưng tên tuổi này cho ta!”

Vindafârna tiến đánh Babylon với quân đội Ba Tư. Ahuramazda ra tay trợ giúp ta. 

‘Bằng ý chí của Ahuramazda, Vindafârna đánh tan quân Babylonia và bắt chúng làm tù binh. 22 ngày của tháng Margazana đã trôi qua khi y bắt được Arakha và bọn quý tộc, những tên về phe với gã. Và thế là ta ra lệnh: “Tên Arakha này cùng bọn quý tộc, những tên về phe với gã, sẽ bị đóng cọc tại Babylon!”‘

‘Nebuchadrezzar IV’ bị hành hình vào ngày 27 tháng 11 năm 521 TCN. Y chỉ ‘trị vì’ được bốn tháng. Vào đầu năm 520 TCN Darius, cuối cùng loại hết kẻ thù, được công nhận là vua trên khắp vùng Cận Đông và ngay lập tức bắt đầu xiển dương một số cải cách chủ yếu nhằm củng cố quyền lực và hàn gắn các vùng miền trong đế chế rộng lớn của mình. Hệ thống hành chính được định hình lại, chủ yếu theo hình mẫu Assyria. Số các satrap tăng lên và quyền hành của họ bị hạn chế thêm nữa vì việc tạo ra chức thống đốc quân sự, viên chức thu thuế và thanh tra hoàng gia. Lực lượng truyền tin hoàng gia phí ngựa như bay từ biển Aegean đến Vịnh Ba Tư qua mạng lưới đáng ngưỡng mộ các tuyến đường. Một bộ luật chung, khiến nhớ lại Bộ Luật Hammurabi, được áp dụng cho mọi dân tộc thần dân. Các hệ thống tiền tệ được thống nhất và dựa vào kim bản vị, tiền đúc được sử dụng trong hoạt động mậu dịch và ngân hàng giờ là đồng daric vàng có mệnh giá 20 shekel bạc. Được cải tổ, quét sạch tham nhũng, đánh thuế nặng và chịu kiểm soát nghiêm nhặt của triều đình, Babylonia duy trì được yên ắng trong phần còn lại của thời trị vì lâu dài của Darius (522 – 486 TCN).

Tuy nhiên, vào năm thứ 4 của Xerxes, con trai và người kế vị Darius, người Babylonia lần cuối cùng ra sức nổi dậy phục hồi tự do của mình (482 TCN). Các hợp đồng từ  Dilbat, Barsippa và Babylon cho thấy Bêl-shimanni và Shamash-eriba lần lượt được nhìn nhận là vua, người trước vào tháng 8, người sau vào tháng 9, trong khi từ các nguồn khác chúng ta biết rằng vị satrap Zophyrus bị giết và Xerxes, nổi cơn thịnh nộ, phái em rể của mình Megabysus dập tắt vụ nổi dậy. Trận đàn áp thật là tàn nhẫn, bọn nổi loạn bị tra tấn và tàn sát, nhưng số lượng tổn thất  chính xác mà người Babylon gánh chịu khó đánh giá được. Nếu Herodotus đã thực sự viếng thăm thành phố mà ông mô tả khoảng 20 năm sau đó, chúng ta có thể kết luận nó chịu rất ít thiệt hại – thực ra, ‘vị Cha già của Lịch sử’ chỉ cho biết Xerxes lấy đi khỏi đền Esagila pho tượng vàng khổng lồ của Marduk. Vậy mà các sử gia Arrian, Ctesias và Strabo cho rằng rằng các tường thành bị giật sập và đền thờ bị san bằng. Vì Esagila và những điện thờ khác được đề cập trong các văn bản về sau, ắt hẳn chúng chỉ bị hư hại một phần và sau đó chúng rơi vào cảnh đổ nát vì không được bảo dưỡng trong thời gian nhiều thế kỷ sau hơn là do hành động hủy diệt dữ dội.

Việc người Babylonia thất bại không thể phục hồi vương quyền quốc gia có hậu quả vượt quá một sự mất mát uy tín đơn giản. Từ một thời điểm ngoài ký ức các nhà vua Mesopotamia chịu trách nhiệm trước thần linh phải tạo phúc lợi cho thần dân mình. Các thành phố nhờ có họ mới có được đền thờ, cung điện, thành lũy và thường các công viên và vườn cây. Họ không hề thất bại trong việc bảo đảm kênh mương phải được đào, được khai thông và mở rộng, đê điều và đập phải được xây dựng, quyền sở hữu đất đai phải được bảo vệ. Trong một xứ sở như Iraq cổ đại những chức năng này có tầm quan trọng sống còn. Dù các đền thờ có thể thành tựu đến đâu chăng nữa trong lĩnh vực của mình, chỉ có một vị vua ngự trị thường trực trong xứ và liên tục nhận biết được nhu cầu của nó có thể thu gom quỹ tài trợ và động viên lao động cần thiết cho những đảm đương có tầm vóc quốc gia như thế. Không có các nhà cai trị của riêng mình Mesopotamia đến một mức độ nào đó bị tê liệt. Sớm hay muộn, có thể dự đoán được, các tòa nhà không được chăm sóc sẽ sụp đổ, kênh đào sẽ bị chất lắng làm tắt nghẽn và một phần đất đai sẽ biến thành sa mạc.

Các vì vua Ba Tư đầu tiên, ý thức được nhiệm vụ của mình đối với một trong những tỉnh giàu có nhất và văn minh nhất của mình, thi hành một số trách vụ hoàng gia có tính truyền thống ở Mesopotamia. Chúng ta biết, chẳng hạn, Cyrus phục hồi khu vực đền thờ thần Sin ở Ur và ông và Darius tu sửa đền E-Anna ở Uruk. Tại Babylon, nơi cư trú mùa đông của mình, Darius xây cất một kho vũ khí, một cung điện cho thế tử và một apadana (một sảnh chống đỡ bằng cột theo phong cách Ba Tư) cho cung điện riêng của mình.

Nhưng Xerxes và những nhà vua kế nghiệp, bận bịu trong cuộc chiến vô tận và tốn kém chống lại người Hy Lạp, dường như không quan tâm nhiều đến giới satrap ở Babylonia. Toàn bộ thời kỳ từ lúc đăng cơ của Xerces (485 TCN) đến cuộc chinh phục của Alexander (331 TCN) thì cực kỳ nghèo nàn về tàn tích kiến trúc và bảng khắc thiết kế. Ở nam Iraq các tài liệu giao dịch tìm được tại chỗ chứng tỏ rằng  Babylon, Barsippa, Kish, Nippur, Uruk và Ur – chỉ đề cập một ít thành phố chính – là còn sống, một số thậm chí còn khá phồn thịnh, nhưng không có đài tưởng niệm nào của họ có vẻ được tái thiết hoặc tu bổ. Về phần phía Bắc, nó vẫn còn chịu đựng từ các vụ tàn phá của những năm 614 – 609 TCN. Từ một bức thư chúng ta biết rằng vào khoảng năm 410 TCN năm ‘thị trấn’ ở vùng đó là các trung tâm hành chính và rằng một nhà quý tộc Ba Tư sở hữu một lãnh địa ở đó, nhưng trừ Arba’il (Erbil), đây chỉ là những ngôi làng lớn cách xa thung lũng Tigris. Xenophon, người đã đi xuyên qua Assyria trong năm 401 TCN với 10,000 lính đánh thuê Hy Lạp, mô tả Nimrud (mà ông gọi là ‘Larissa’) là ‘hoang vắng’, và thậm chí không nhận ra tường thành Nineveh khi trông thấy gần Mescila (Mosul). một ‘thành lũy lớn rộng không được phòng thủ’.

Những điều kiện kinh tế khắc nghiệt có lẽ đã đóng góp vào sự suy thoái của văn minh Mesopotamia. Huyết mạch chính của đế chế Ba Tư, ‘Con Đường Hoàng Gia’ từ Sardis đến Susa, chạy dưới chân núi và đi vòng qua Babylon. Mậu dịch với Ấn Độ và phương Đông nói chung thuộc độc quyền của Ba Tư, ở gần các xứ đó hơn. Syria đã bị Darius và Xerxes tách ra khỏi Mesopotamia. Babylon và Assyrian, được  xáp nhập lại thành tỉnh thứ 9, bị đánh thuế hết sức cao: họ trả cho Vua cống hàng năm là 1,000 ta-lăng bạc và cung cấp cho triều đình Ba Tư thực phẩm trong bốn tháng mỗi năm. Thêm vào đó, họ phải chịu toàn bộ gánh nặng của một bộ máy hành chính tham lam. Nếu chúng ta tin tưởng Herodotus, vị satrap của Babylonia nhận mỗi ngày một artaba (khoảng 57 lít) bạc và giữ 800 ngựa giống và 16,000 lừa, trong khi các con chó giống Ấn của ông được bốn làng nuôi ăn! Vì tất cả lý do này, xu hướng tăng giá, đã được nhận ra trong thời kỳ Tân Babylonia, tiếp tục dưới triều vua Ba Tư: trong vòng thế kỷ tiếp theo sau cái chết của Darius chi phí sinh hoạt tăng gấp đôi mà không tương ứng với việc tăng lương, và giá thuê một ngôi nhà trung bình tăng từ 15 shekel mỗi tháng dưới thời Cyrus đến 40 shekel dưới thời Artaxerxes I (464-424 TCN. Tất nhiên, các chủ ngân hàng lớn và người cho vay nặng lãi hưởng lợi từ các điều kiện này. Gia đình Murashû ở Nippur, chẳng hạn – một hãng lớn hoạt động ở nam Mesopotamia giữa năm 455 và 403 TCN – chuyên canh tác ruộng đất mà các viên chức Ba Tư và gia đình binh sĩ và công bộc sở hữu nhưng không chịu tự tay làm; họ cung cấp bò, nông cụ và thủy lợi và thu một phần trong lợi tức thu được. Họ cũng cho thuê quần áo, thực phẩm và trang bị cho dân chúng bị gọi đi nghĩa vụ quân sự và tiền bạc (40 – 50 lãi suất) cho ai không có tiền trả nợ hoặc nộp thuế.

Quan trọng không kém là những thay đổi về sắc tộc và ngôn ngữ mà việc thống trị của người Ba Tư đã mang lại. Dân số Babylonia, đã pha trộn với người Medes, Ả Rập, Do Thái, Ai Cập, Urarta và những dân xứ khác trong thời kỳ Assyria và Babylonia, lại nhận thêm một dòng huyết thống Ba Tư mạnh mẽ dưới thời Darius và Xerxes: nhiều người Ba Tư được nhà vua ban điền trang; những người khác được bổ nhiệm làm quan tòa hoặc giao phó các chức vụ hành chính  lớn nhỏ. Với những người này các thần linh Iran đi vào thung lũng Tigris – Euphrates. Đúng là không có chứng cứ là vào thời điểm đó họ là đối tượng của một giáo phái có tổ chức, và sắc dụ của Xerxes ngăn cấm thờ bất kỳ vị thần nào khác hơn là thần Ba Tư Ahuramazda không hề được tuân thủ; nhưng chỉ cần sự kiện là một số người Babylonia đổi tên tiếng Semitic của họ sang một tên kết hợp các vị thần gốc Aryan là tố cáo một suy yếu nào đó về lòng sùng tín riêng tư. Đối với tất cả các dân tộc có nguồn gốc khác nhau và tiếng nói khác nhau này chỉ có thể có một một ngôn ngữ chung: tiếng Aramaic. Đã được nói rộng rãi ở Tây Á, dễ học, thích hợp để viết trên giấy cói hoặc giấy da, được Darius chính thức công nhận là ngôn ngữ chung cho toàn đế chế, tiếng Aramaic thay thế tiếng Babylonia trong nhà, ngoài đường và cửa hàng. Chỉ những người có học vấn mới còn có thể đọc và viết tiếng Akkad và Sumer trong dạng hình nêm. Nhiều văn bản văn chương, tôn giáo và lịch sử được sao chép trong thời kỳ  Achaemenian, cũng như các công trình nổi bật của các nhà thiên văn như Nabû-rimâni và Kidinnu là chứng cứ cho thấy văn hóa truyền thống Mesopotamia vẫn còn có sức sống trong những phạm vi hạn chế này; vậy mà đối với đại đa số dân chúng các bảng đất sét khắc chữ là vô nghĩa, và lịch sử kể cho chúng ta rằng một dân tộc mà quên đi ngôn ngữ sẽ quên đi quá khứ và chẳng bao lâu sẽ mất đi bản sắc của mình.

Bị áp bức, bị bần cùng hóa và một phần ‘bị vô quốc gia hoá’, đó chính là số phận sẽ xảy đến cho Mesopotamia vào những thập niên cuối cùng của thế kỷ thứ 4 TCN, khi Alexander đến để cho nó một cuộc sống mới, dù hoàn toàn khác.

Thời kỳ Hellenistic

Trận đánh Gaugamela, vào ngày 1/10/331 TCN, mở đường cho Alexander tiến vào Babylonia và Ba Tư, cũng như trận Issus, hai năm trước, đã mở đường cho ông tiến vào Syria và Ai Cập. Binh lính Ba Tư đóng tại Babylon đầu hàng không cần đánh, và nhà chính phục xứ Macedonia diễu hành khải hoàn vào cố đô Semitic. Nhận ra như Cyrus rằng mình không bao giờ có thể cai trị ‘một trăm quốc gia khác nhau’ trừ khi ông lấy được lòng họ, ông làm lễ hiến tế thần Marduk và ra lệnh tái thiết các đền thờ được cho là đã bị Xerxes phá hủy – một trách vụ đồ sộ không hề được hoàn thành. Người Babylonia tung hô ông như người giải phóng cho họ và lập tức nhìn nhận vương quyền của ông. Sau một tháng dừng chân ở Babylon ông tiến quân đến Susa và sau đó lao mình vào cuộc viễn chinh vĩ đại về hướng Đông mang ông đi xa tận Sông Hằng. Khi ông trở lại, chín năm sau đó, đầu óc ông chúa đầy những dự án phi thường: Babylon và Alexandria ở Ai Cập sẽ trở thành kinh đô song sinh của đế chế ông; chúng sẽ liên kết nhau bằng biển cả bao quanh bán đảo Ả Rập, sẽ sớm bị chính phục; bờ biển Ấn Độ Dương rồi sẽ được thám sát; sông Euphrates sẽ được thông thương đến tận Vùng Vịnh; một cảng lớn sẽ được xây dựng ở Babylon và một cảng khác ở cửa sông. Nhưng hầu hết những kế hoạch này chỉ mãi nằm trên một bức thư chết: vào ngày 13/6/323 TCN Alexander chết ở Babylon, ắt hắn bị sốt rét, ở tuổi 32.

Lúc đó con trai duy nhất của Alexander, Alexander IV tương lai, vẫn chưa ra đời, và chính em ông, Philip Arrhideus, là người được tuyên bố làm vua Macedonia. Nhưng quyền hành của ông hoàng trẻ tuổi và chậm phát triển trí tuệ này chỉ là hữu danh vô thực. Quyền hành thực sự nằm trong tay các tướng lĩnh của Alexander – diadochi (nhóm tướng lĩnh kế vị) – những người toa rập chia đế chế với nhau, chiến đấu trong  42 năm để ngăn không ai được tái lập đế chế. (Những nhân vật nổi cộm nhất của Diadochi bao gồm Ptolemy, Antigonus, Cassander, và Seleucus như những người cuối cùng còn lại sau các cuộc đấu đá sâu xé đế chế, lần lượt  cai trị ở Ai Cập, Tiểu Á, Macedon và Ba Tư: ND). Trong thời kỳ này – một trong các thời kỳ phức tạp nhất trong lịch sử cổ đại – Babylon đổi chủ vài lần. Lúc đầu ghế chủ tọa của nhóm quân sự cầm đầu do nhiếp chính Perdiccas ngồi, sau đó nó được các đồng sự giao cho Seleucus, chỉ huy kỵ binh Macedonia vào năm 321 TCN, sau khi họ ám sát Perdiccas. Vào 316 TCN Antigonus, vị satrap tham vọng của Phrygia, hất cẳng  Seleucus khỏi Babylon, buộc y phải ẩn náu với Ptolemy ở Ai Cập. Nhưng Seleucus trở về vào năm 312 TCN, phục hồi chức satrap của ông, và suốt 4 năm bảo vệ thành công chức vị đó từ các cuộc tấn công lặp đi lặp lại do Antigonus và con trai ông Demetrius tiến hành. Đó là cuộc chiến dữ dội và cay đắng gây đau thương khủng khiếp cho Babylon và lãnh thổ của nó – ‘đắt nước ngập tràn tiếng than khóc và tang tóc’ lặp đi lặp lại như một điệp khúc mà một biên niên sử mô tả các sự kiện này. Cuối cùng, Antigonus bị đánh bại và tử trận tại Ipsus ở Phrygia (301 TCN), và Seleucus bổ sung vào Babylonia quyền satrapy của Syria và nửa phần phía đông của Tiểu Á. Tuy nhiên, chiến tranh vẫn tiếp tục, lần này ở phía tây giữa  Seleucus, Ptolemy, Demetrius và nhà cai trị xứ Thrace, Lysimachus, người xứ Macedonia. Vào tháng 9 năm 281 TCN, một ít tháng sau khi đã đánh bại Lysimachus tại Korupedion (gần Sardis), Seleucus bị đâm chết bởi con trai của Ptolemy. Ông đã lấy tước vị vua vào năm 305 TCN, nhưng đối với người Babylonia ‘năm Silukku’, kỷ nguyên Seleucid, bắt đầu vào Ngày Tân Niên đầu tiên tiếp theo sau chuyến trở lại từ Ai Cập của ông: 3 tháng 4 311 TCN. Đó là lần đầu tiên mà một hệ thống tính niên đại liên tục được sử dụng tại Mesopotamia.

Sau trận Ipsus Seleucus cai trị trực tiếp hoặc gián tiếp một lãnh thổ rộng lớn và vươn dài từ biên giới Ấn Độ đến biên giới Ai Cập và từ Biển Đen đến Vịnh Ba Tư. Nhưng  đế chế này thiếu sự gắn kết và bắt đầu tan rã gần như sau khi nó được hình thành. Vào 200 TCN các hậu duệ của Seleucus đã thực tế mất tất cả tỉnh lỵ và vùng bảo hộ của họ bên kia Taurus và dãy Zagros, và sau khi Babylonia đã bị người Parthia chinh phục (126 TCN), tất cả đất còn lại chỉ là một nhà nước nhỏ ở bắc Syria, bị xé nát bởi các cuộc khủng hoảng triều đại, trở thành miếng mồi ngon cho người La Mã vào năm 63 TCN. Thực sự, ngay từ khi Seleucus thành lập Antioch trên con sông Orontes, vào tháng 5 năm 300 TCN, và biến nó thành nơi cư ngụ ưa thích của mình, vương quốc Seleucid của ông về bản chất vẫn luôn là một vương quốc Syria. Nếu chúng ta loại ra một nỗ lực thất bại thực hiện bởi  Antiochus III (222 – 187 TCN) nhằm lấy lại các khu vực phía Đông, thì các hoạt động ngoại giao và quân sự của các nhà cai trị của nó gần như hoàn toàn thu hút vào cuộc xung đột vô tận với các vua dòng họ Ptolemy ở Ai Cập nhằm chiếm hữu các cảng Phoenicia và nội địa. Điều này có nghĩa là hòa bình cho người Babylonia giờ đây ắt hẳn nhẹ nhõm vì các tai họa của chiến tranh đã rời khỏi đất nước mình để đến ‘xứ bên kia sông’, giờ họ gọi là Syria, nhưng điều đó cũng có nghĩa Babylon mất các đặc quyền vị trí nó có thể giữ được nếu nó vẫn còn là kinh đô của vương quốc Macedonia, như địa lý và lịch sử đã giao sứ mạng cho nó. Trong nhiều năm sắp tới, trung tâm chính trị, văn hóa và kinh tế của thế giới sẽ chuyển từ bờ sông Euphrates đến bờ biển Địa Trung Hải.

Không nghi ngờ gì nữa thành tựu lâu bền nhất của Alexander và những người kế vị ông là việc thành lập ở Ai Cập và Tây Á nhiều thành phố được tổ chức theo mô hình thành bang Hy Lạp và do các người định cư Hy Lạp-Macedonia sinh sống cũng như các thần dân Đông phương. Liệu làm như vậy họ chỉ muốn tạo ra một mạng lưới các căn cứ chính trị và quân sự, hoặc nhắm tìm cách xiển dương văn hóa và lối sống Hy Lạp vào phương Đông là một vấn đề gây nhiều tranh cãi. Nhưng kết quả đạt được là rõ ràng: vùng Cận Đông trở nên ‘bị Hy Lạp hóa’ theo các mức độ khác nhau, và kiểu sống đô thị tại các vùng này đã thay đổi sâu sắc. Chúng ta biết ít nhất một tá thành phố như thế chỉ riêng ở Mesopotamia, từ Edessa-Antioch ở cực bắc đến Alexandria-Charax tại hoặc gần Vịnh. Như quy luật, chúng được xây dựng bên cạnh hoặc trên địa điểm cao nhất của các thị trấn và làng mạc cổ, dù cách bố trí và đặc điểm kiến trúc của chúng hoàn toàn mới. Seleucia-on -the-Tigris (Mô gò ‘Umar, đối diện Ctesiphon), được Antiochus I thành lập vào năm 274 TCN, ắt hẳn trên di chỉ Semitic Upâ (Opis), là thành phố lớn nhất không chỉ của Mesopotamia mà còn của toàn vương quốc Seleucid, với một dân số khoảng 600,000.

Các không ảnh cho thấy rõ ràng ‘thiết kế mạng lưới’ của nó, các khối nhà ở chia tách bởi các đại lộ và đường phố cắt vuông góc nhau. Các cuộc khai quật ở đó trước chiến tranh và từ năm 1964 đã phát hiện một số tòa nhà và nhiều vật dụng (các tượng người nhỏ bằng đất sét, tượng đá, tiền đồng, đồ trang sức, đồ gốm) trong thành phố thời Seleucia, những phế tích của nó bị chôn bên dưới thành phố cũng không kém rộng lớn và giàu có thời Parthia. Một tình thế tương tự đối mặt với các nhà khảo cổ tại Dura-Europus (Salahiyeh, trên bờ sông Euphrates, cách Mari cổ đại 50 km về phía thượng lưu), và ở đây một lần nữa những tàn tích các công trình Hy Lạp – một pháo đài, một lâu đài và ít nhất một đền thờ – có thể lần ra dấu vết bên dưới các tòa nhà thời Parthia.

Những thành phố Hy Lạp này tất cả đều toạ lạc tại những tuyến đường mậu dịch lớn kết nối Trung Á với Địa Trung Hải, và phát đạt nhờ các hoạt động trung chuyển. Seleucia, đặc biệt, là điểm hội tụ của hai tuyến đường bộ đến từ Ấn Độ một qua Bactria và bắc Iran, đường kia qua Persepolis and Susa), của tuyến đường biển quan trọng từ Ấn qua vùng Vịnh, và của vài đường mòn băng qua bán đảo Ả Rập. Từ Seleucia vàng, ngà voi, hương liệu, gia vị và đá quý, cũng như sản phẩm của chính Mesopotamia – lúa mì, lúa mạch, chà là, len và nhựa đường – được vận chuyển đến Syria, hoặc dọc sông Euphrates qua Dura-Europus, hoặc dọc sông Tigris và băng qua Jazirah qua Nisibin (Antioch ở Mygdonia) và Edessa. Giao thương giữa châu Âu, châu Á và một phần châu Phi cực kỳ sôi động vào thời đại Hy Lạp, và không mấy nghi ngờ về sự phồn vinh của vương quốc Seleucid nói chung – ít nhất trong thế kỷ thứ 3 TCN. Thông tin của chúng ta về Babylonia đáng tiếc là hiếm hoi, nhưng một ít văn bản thương mại được phổ biến (chủ yếu từ Uruk) cho thấy một số lượng kha khá hoạt động buôn bán được tiến hành thậm chí trong các thị trấn xưa hơn, và rằng giá cả đã xuống thấp hơn nhiều so với mức cao của thời kỳ Ba Tư.

Những điều kiện kính tế và nhân khẩu mới thịnh hành trong thời Mesopotamia thuộc Seleucid tác động một ánh hưởng sâu xa mặc dù khác nhau lên các thành phố cũ hơn. Chẳng hạn Nimrud do nằm trên tuyến Tigris nên hồi phục thành một ngôi làng tuy nhỏ nhưng thịnh vượng. Tương tự, Nineveh, Mari và Arslan-Tash được chiếm dụng lại sau nhiều năm bị bỏ hoang. Ur thì chết mòn, ắt hẳn bị giết do sự cạnh tranh từ Alexandria-Charax cũng nhiều như bởi các thay đổi thủy văn trong vùng. Babylon chịu ảnh hưởng gay gắt. Đúng là các nhà cai trị Macedonia nỗ lực tuy không liên tục nhằm hồi sinh và cách tân thành phố bị hư hại phân nửa. Trong bảng khắc hoàng gia cuối cùng bằng tiếng Akkad mà chúng ta sở hữu rằng Antiochus I (281 – 260 TCN) tự xưng mình là ‘người cung phụng Esagila và Ezida‘, như các vị vua Chaldea, và tuyên bố rằng mình ‘tạo ra bằng bàn tay vương giả của mình’ và mang về từ ‘Hatti’ (Syria) những viên gạch đầu tiên cho các đền thờ này. Một bảng chữ khắc có niên đại vào thời trị vì của Seleucus III (225 – 223 TCN) cho thấy việc cúng tế đều đặn còn được dâng lên một số thần Babylonia trong các điện thờ của các ngài. Những tàn tích kiến trúc Hy Lạp được phát hiện tại mô gò  Bâbil và tại di chỉ cung điện Nebuchadrezzar. Dưới thời Antiochus IV (175 – 164 TCN) – nhà vua làm hết sức mình để truyền bá văn hóa Hy Lạp – Babylon nhận được một vận động trường và một nhà hát Hy Lạp khá bề thế, sau này được người Parthia mở rộng. Vậy mà Babylon không những không còn là địa điểm của chính quyền hoàng gia, mà nó đã phần nào vắng vẻ, một số lớn dân cư đã chuyển đến sống ở Seleucia khi thành phố mới này vừa được thành lập. Chúng ta không biết điều gì xảy ra ở Sippar, Kish và Nippur, nhưng Uruk dường như đã thịnh vượng lên, xét từ các công trình ấn tượng được dựng lên trong thời kỳ Seleucid. Một vỉa hè rộng được xây quanh tháp tầng E-Anna hoàn toàn biến đổi khu vực thiêng liêng này, trong khi tại những nơi khác của thành phố hai đền thờ rộng lớn được dựng lên: Irigal (hay Esh-gal), thờ cúng Ishtar, và đền có tên  Bît rêsh, thờ cúng Anu. Cả hai có các đặc điểm quy ước của đền thờ Babylonia, mặc dù một hàng chữ dài trên các viên gạch bóng chạy trên tường của phòng cúng Irigal, một cách có ý nghĩa, viết bằng ký tự và ngôn ngữ Aramaic. Cũng điển hình của thời kỳ là các tên Hy Lạp được các nhà vua ban cho hai vị phán quan của thành phố đã xây nên các đền thờ này Anu-uballit Nicarachus và Anu-uballit Kephalon. Một cuộc khảo sát các bản hợp đồng bằng bảng đất sét và các dấu niêm mang chữ khắc Hy Lạp hoặc Aramaic cho thấy Uruk (người Hy Lạp gọi là Orchoi) cung cấp nơi cư trú cho một cộng đồng Hy Lạp quan trọng, nhưng duy trì các luật lệ và tập tục cổ xưa và được miễn một vài sắc thuế hoàng gia. Hầu hết các thương lượng làm ăn được tiến hành bởi tổ chức đền thờ mà các công dân bình thường có thể tham gia về mặt tài chính với các hoạt động của nó bằng các phương thức của một hệ thống không khác nhiều lắm với hình thức cổ đông hiện đại. Sự tồn tại của hình thúc đền thờ-nhà nước có tính bán độc lập được minh chứng rõ ràng ở Tiểu Á trong thời kỳ thuộc Hy Lạp, và ắt hẳn Uruk có được một vị thế tương tự nhờ chính sách phóng khoáng của triều đại Seleucid.

Chính trong các đền thờ như các đền thờ ở Uruk, Sippar, Babylon và Barsippa mà nền văn hóa Sumer-Akkad được gìn giữ. Trong suốt thời kỳ Seleucid các nhà thiên văn đền thờ và các chiêm tinh gia tiếp tục ghi chép trên bảng đất sét những chuyển động của các thiên thể, trong khi các thư lại ghi lại các sự kiện đương thời dưới hình thức như biên niên sử và sao chép một số các thần thoại, nghi thức, thánh thi và điềm triệu cổ xưa. Dường như đương nhiên là nền văn hóa Hy Lạp nhiều tiến bộ, vốn nảy nở trong các thành phố như Seleucia, tác động một sức hấp dẫn mạnh mẽ lên các thành viên ít bảo thủ của giới trí thức Babylonia; nhưng nếu có thể soạn ra một danh sách dài các tác giả Hy Lạp nguyên quán từ Mesopotamia, thường khó để phân biệt giữa hậu duệ của những người thuần túy Hy Lạp-Macedonia với những ai, sinh ra tại Babylonia nhưng lấy tên Hy Lạp. Thật ra, chứng cứ có sẵn dường như chỉ dấu một phong trào theo chiều hướng ngược lại: người Hy Lạp bỗng tỏ ra quan tâm vào lịch sử và văn chương Mesopotamia không nhiều như trong các công trình khoa học và giả – khoa học của ‘người Chaldea’. Trong các thế kỷ thư 2 và 3 TCN người Sudinês ở Babylonia dịch ra tiếng Hy Lạp các tác phẩm của Kidinnu và các nhà thiên văn khác, và Berossus, giáo sĩ tại đền thờ Marduk, viết bằng tiếng Hy Lạp một tác phẩm pha trộn giữa chiêm tinh và các giai thoại lịch sử có tên là Babyloniaca, mà ông đề tặng Antiochus I. Dù rất hạn chế, các giao lưu văn hóa này giữ lại cho hậu thế một số thành tựu nổi bật nhất của các nhà khoa học Mesopotamia, trong khi sản phẩm cuối cùng bị chống đối nhiều nhất của tín ngưỡng Mesopotamia về thuyết tiền định, chiêm tinh, thâm nhập và làm bại hoại các tôn giáo của phương Tây.

Đế chế Seleucid

Thời kỳ Parthia

Người Parthia – một chi nhánh của người Scythia – xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử khoảng 250 TCN, khi Arsaces cầm đầu các bộ tộc du cư của mình đi ra khỏi các thảo nguyên của Turkestan để định cư ở góc đông-bắc Iran. Vào 200 TCN, nhóm ‘Arsacids’ đã lập nghiệp vững chắc giữa Cổng Caspian (Hecatompylos) và vùng Meshed (Nisaia). (Nhóm này khai sinh ra vương quốc Parthia nên đế chế Parthia còn gọi là đế chế Arsacid)

Giữa  160 and 140 TCN Vua Parthia  Mithridates I chinh phục hoàn toàn cao nguyên Iran và, đến Tigris, hạ trại tại Ctesiphon, đối diện Seleucia. Demetrius II của triều đại Seleucid lấy lại thành công Babylonia và Media trong một ít năm, nhưng vào 126 TCN Artabanus II của Parthia xác lập lại quyền hành của mình trên các vùng đất này, và từ đó trở đi thung lũng Tigris-Euphrates vẫn duy trì trong tay người Parthia – trừ hai thời kỳ ngắn ngủi nằm dưới sự chiếm đóng của La Mã dưới đời vua Trajan và Septimus Severus – cho đến khi nó rơi vào sự thống trị của người Sausanian (lập ra đế chế mà các sử gia còn gọi là Tân Ba Tư) với phần còn lại của vương quốc Parthia vào 227 CN.

Để cai trị đế chế Parthia của mình người Arsacids chỉ có thể trông cậy vào một giới quý tộc nhỏ, nhưng dũng cảm, nhưng họ có óc thông minh biết sử dụng các tổ chức xã hội mà người Seleucid, hoặc những người đã lớn lên trên những đổ nát của vương quốc Seleucid, tạo ra. Họ khuyến khích phát triển các thành phố kiểu Hy Lạp và cho phép thành lập các vương quốc chư hầu độc lập, như Osrhoene (quanh Edessa-Urfa), Adiabene (tương ứng với Assyria cổ xưa) and Characene (gần Vịnh Ả Rập-Ba Tư).

Vương quốc Parthia và các chư hầu của nó đều giàu có, vì trong thực tế họ kiểm soát mọi tuyến đường mậu dịch giữa châu Á và thế giới La-Hy, với kết quả là thế kỷ thứ 2 và 1 TCN được ghi dấu ở Mesopotamia bởi các hoạt động xây dựng rầm rộ từ kết quả sáng kiến của chính quyền hay vùng miền. Không chỉ Seleucia, Dura-Europus và có thể cả những nơi phát đạt khác được cung cấp một số lớn công trình mới, mà các thị trấn và làng mạc trước đây nằm ngổn ngang đổ.nát cả trăm năm nay giờ cũng được chiếm dụng lại.

Ở nam Iraq dấu vết chiếm dụng của người Parthia được tìm thấy gần như tại mọi di chỉ được khai quật, đặc biệt Babylon, Kish, Nippur, Uruk và thậm chí Girsu đã bị bỏ quên. Ở phía bắc Assyrya nói trắng ra là được xây dựng lại: Nuzi, Kakzu, Shibanniba có người ở trở lại, và Assur, được xây mới, trở thành một thành phố ít nhất cũng rộng như từng ở vào những ngày tháng hoàng kim của đế chế Assyria. Nhưng phải cần nhấn mạnh là những khu định cư sống lại có rất ít điểm chung với những khu trước đây ở Assyria và Babylonia. Một số chúng, nếu không muốn nói là tất cả, đều có phố xá thẳng hàng, hai bên đường có cột, một thành lũy, thường xây dựng trên chóp tháp tầng cũ, và một quãng trường bất cứ khi nào có thể. Tường đá hoặc tường gạch xây nề thay thế các bức tường truyền thống bằng gạch bùn, trong khi chính các tòa nhà, với các phòng ốc cao ráo có mái vòm mở ra một bên, hàng cột bao quanh duyên dáng và cách trang trí bằng hình nổi ép khuôn trên tường, khác thấy rõ với các tòa nhà được xây dựng bởi các nhà kiến trúc Mesopotamia như các tượng Hy Lạp-Iran của các nhà cai trị Hatra khác với các tượng của Gudea hoặc Ashurnasirpal.

Các dữ liệu khảo cổ này, kết hợp với chứng cứ văn bản, cho thấy sự tràn vào ào ạt của dân ngoại bang. Các người lập cư Hy Lạp và Macedonia, có thể không nhiều lắm lúc đầu, đã sống bên cạnh người Babylonia và họ tương đối ít tiếp xúc xã hội với người bản xứ; họ gìn giữ quốc tịch của mình, các định chế của mình, nghệ thuật của mình, ngôn ngữ của mình, tóm lại ‘tính cách Hy Lạp’ của mình, và còn gìn giữ nó dưới sự bảo bọc của các quân vương được khai sáng tự xưng mình là ‘chuộng Hy Lạp’. Nhưng những người mới đến – hầu hết là người Aramaea, Ả Rập và Iran – định cư ở Mesopotamia với số lượng lớn, và hoà nhập với dân chúng bản xứ dễ dàng hơn vì họ cùng thuộc nhóm phương Đông, thường là Semitic và nói cùng một thứ ngôn ngữ. Mỗi thành phố, cũ hay mới, đều cho vài thần linh nước ngoài cư ngụ. Tại Dura-Europus, chẳng hạn, được mang ra ánh sáng hai đền thờ Hy Lạp, một điện thờ Aramaea, một nhà nguyện Cơ đốc, một giáo đường Do Thái và một  nhà thờ của người Mithra (Ba Tư cổ), không kể các vị thần bản địa và thần của Palmyra. Tương tự, thần Nergal của Sumer-Akkad, thần Hermes của Hy Lạp, nữ thần Atar’at của Aramaea và các thần Allat va Shamiyab của Ả Rập có đền thờ của họ ở Hatra, bao quanh điện thờ uy nghi của Shamash, thần mặt trời chung của mọi dân Semite. Thậm chí ở Uruk, ngôi nhà tổ của Anu và Ishtar, còn có thể được nhìn thấy một đền thờ nhỏ duyên dáng, có phong cách La Mã hơn Hy Lạp, thờ thần Iran Gareus, và tàn tích của một nhà tụng niệm phi thường được cho là một đền thờ thần Mithra. Người Do Thái sống nhiều ở Mesopotamia, và từ khoảng 30 đến 60 CN hoặc thậm chí xa hơn, một gia đình bản xứ cải sang đạo Do Thái cai trị Adiabene từ kinh thành của nó là Arbela (Erbil). Theo truyền tụng Đông phương, cũng trong thời gian này đạo Cơ đốc bắt đầu xâm nhập vào miền bắc Mesopotamia đến từ Antioch và Edessa.

Làn sóng người và ý tưởng hòa nhập với những gì còn sót lại của nền văn minh Sumer-Akkad. Một số hợp đồng, khoảng 200 văn bản thiên văn và chiêm tinh và hai hoặc ba biên niên sử manh mún và bảng từ vựng Babylonia-Hy Lạp là toàn bộ tài sản văn chương hình nêm mà chúng ta sở hữu về thời kỳ đó. Văn bản hình nêm cuối cùng được biết đến giờ – một ‘niên giám’ thiên văn – được viết vào năm 74 – 5 CN. Hoàn toàn có thể các thầy tu và nhà thiên văn Babylonia tiếp tục viết bằng tiếng Aramaic trong vài thế hệ nữa trên giấy cói hoặc giấy da, nhưng không văn bản nào thuộc chất liệu này còn có thể tìm được. Chúng ta biết rằng một số đền thờ cổ đại được phục hồi, rằng Ashur được thờ cúng trong thị trấn quê hương của ngài và rằng việc thờ cúng Nabû trở lại ở Barsippa cho đến có lẽ tận thế kỷ 4 CN. Nhưng không có chứng cứ là Esagila, đền thờ của vị thần quốc giáo Marduk trước đây, được tu sủa. Đúng ra, Babylon ắt hẳn chịu đựng nhiều thiệt hại trong sự áp bức theo sau cuộc nổi dậy của một ông Hymeros nào đó vào 127 TCN, hoặc trong cuộc nội chiến  giữa Mithridates II và Orodes vào 52 TCN, hơn là trong tay của Xerxes. Khi Hoàng đế La Mã Trajan, vào năm 115 CN, tiến vào thành phố từng một thời giàu sụ, không phải để ‘nắm lấy bàn tay của Bêl’, mà để hiến tế vong hồn của Alexander. 84 năm sau khi Septimus Severus đến đó đã thấy nó hoàn toàn hoang vắng. 

Ta biết rất ít về tình trạng hành chính, xã hội và kinh tế của Mesopotamia dưới thời triều đại Sassanid (cũng gọi là Tân Ba Tư) (CN. 224 – 651). Chúng ta biết từ các tác giả Hy Lạp và La tinh là phần phía bắc của đất nước bị tàn phá qua bốn thế kỷ chiến tranh gần như không dứt giữa người La Mã (hoặc Byzantine) và Ba Tư và rằng Assur vào 256 CN bị Shapur I, vua thứ hai của triều đại Sassanid, hủy diệt tận gốc rễ như từng bị người Medes hủy diệt. Tại Ctesiphon có thể  chiêm ngưỡng tàn tích của một cung điện hoành tráng được gán cho  vua Sassanid Chosroes I trong khi một nơi cư ngụ khiêm tốn hơn của một vị vua Sassanid khác đã được khai quật tại Kish. Tại Uruk, không xa tường thành do Gilgamesh xây dựng ban đầu, một nhà cai trị bản xứ (?) được an táng với vương miện bằng lá vàng. Các mảnh gốm vỡ thời Sassanid minh chứng cho việc chiếm dụng hoặc chiếm dụng lại những di chỉ cổ xưa khác. Nhưng vào đầu thế kỷ 7 CN không lâu trước cuộc chinh phục của Hồi giáo, sự kết hợp thông thường giữa trở ngại quân sự, xung đột nội bộ và các khó khăn về kinh tế gây ra sự thoái trào của vương quốc Sassanid và sự tàn rụi của Mesopotamia. Nhiều kênh đào không chăm sóc bị khô cạn; sông ngòi, không được kiểm tra, có thể uốn khúc tự do; dân chúng phân tán ra các ngôi làng bên ngoài, bỏ đi khỏi các thị trấn không còn nước, và các thành phố cổ đại ở  Iraq  dần dần bị chôn vùi dưới lớp cát sa mạc và chất bồi lắng của thung lũng. Những ai ở lại bị gây nhiều thiệt hại bởi sự hình thành, vào 629 CN, ‘Đầm Lầy Lớn’ mà trong suốt thời Trung Cổ bao phủ toàn bộ diện tích Sumer cổ đại, hoặc bởi sự hủy diệt khủng khiếp được tiến hành một cách có hệ thống bởi người Mông Cổ vào thế kỷ 13, hoặc một lần nữa, buồn thay, bởi việc tái sử dụng vật liệu xây dựng của người nghèo dốt nát, đối với họ lịch sử Iraq cổ đại thực sự không có nghĩa lý gì.

LỜI BẠT

Thế là một trong các nền văn minh cổ nhất và nổi bật nhất của thế giới cổ đại đã tiêu vong. Bị phá hủy tàn bạo ở Assyria vào cuối thế kỷ 7 TCN, nó tồn tại ở Babylonia khoảng 6 thế kỷ để rồi biệt tăm với bảng chữ hình nêm cuối cùng vào đầu kỷ nguyên Cơ đốc.  Sinh ra trong thời kỳ Uruk và Jemdat Nasr (k. 3500 – 3000 TCN), nó đã kéo dài hơn 3,000 năm. 

Trong quá trình suy thoái (500 TCN – 100 CN), điều kiện kinh tế đóng một vai trò nhỏ hơn như có lúc được tin tưởng, và những thay đổi địa lý – sự ngoằn nghoèo uốn khúc của hai sông, sự bồi đắp của kênh đào, sự nhiễm mặn của dất – đều có trach nhiệm cho việc dân chúng bỏ rơi nhiều thị trấn và làng mạc cổ đại và chỉ đến cuối thời kỳ Sassamid thì các vùng diện tích lớn không người ở mới đạt đến quy mô lớn lao (thế kỷ 5 – 6 CN).

Xét chung, sự tan rã và tiêu vong của nền văn minh Mesopotamia có thể do ba nguyên nhân chính: sự vắng mặt của một chính quyền quốc gia, việc Alexander và các người kế vị thành lập các thành phố mới cạnh tranh với và cuối cùng thay thế các khu định cư cổ hơn và trên hết, những thay đổi sâu sắc về sắc tộc, ngôn ngữ, tôn giáo và văn hóa bị các làn sóng liên tiếp các bọn xâm lược đưa vào – Ba Tư, Hy Lạp, Aramaea, Ả Rập tiền Hồi giáo – những người mà Mesopotamia không thể ngăn chặn hoặc đồng hóa được.

Trong suốt chiều dài lịch sử lâu dài của mình Mesopotamia đã bị xâm lược nhiều lần. Guti, Amorite, Hurri, Kassite và Aramaea đã tìm thấy ở thung lũng Lưỡng Hà một nền văn hóa trẻ trung và năng động ưu việt hơn của họ nhiều và đã đều chấp nhận nó. Nhưng đối với người Hy Lạp của thế kỷ 3 TCN văn minh cao, đối với các đệ tử của Plato và Aristotle, người Babylonia không có nhiều để cống hiến ngoài các tác phẩm uyên áo của các nhà thiên văn của mình; và không có gì kém thích hợp đối với yêu cầu của xã hội đô thị lúc đó đang bắt rễ ở Iraq hơn là ký tự hình nêm rối rắm mà chính người Babylonia đang từ bỏ. Cái mà người định cư Hy Lạp-Macedonia và Đông phương nhìn thấy ở xứ sở đó là một nền văn hóa lỗi thời và ‘hoá thạch’, được một ít thầy tu trong một ít đền thờ muốn làm cho bất tử.

Tính ứng biến và sáng tạo vắng mặt khỏi văn chương từ thời Hammurabi; điêu khắc dưới thời triều đại Chaldea và Seleucid vẫn còn sản sinh một số công trình ấn tượng, nhưng bám chặt thiết kế truyền thống; về phần các ngành khoa học khác nhau, chúng rõ ràng đã đi đến giới hạn, với ngoại lệ thấy rõ là toán học và thiên văn học. Gắn kết với truyền thống, có lẽ là đặc điểm lấn át của nền văn minh Sumer-Akkad, đã bảo đảm cho nó được mạch lạc và liên tục  trong suốt 3,000 năm, nhưng giờ đây đặc điểm đó trở thành một trở ngại hơn là lợi thế.

Thời kỳ sinh tử cho Mesopotamia, thời kỳ thuộc Hy Lạp, có thể được so sánh với thời Phục Hưng thế kỷ 16, hay thực ra, với thời đại của chúng ta. Thế giới mới mà Alexander mở đường là một thế giới biến đổi nhanh chóng dựa trên giao lưu thương mại bành trướng, óc tò mò bừng nở, hồ hỡi đánh giá lại hầu hết các giá trị về tôn giáo, đạo đức, khoa học và nghệ thuật. Không có chổ cho loại văn chương mà không ai trừ một ít học giả có thể đọc được, cho nghệ thuật chỉ lấy cảm hứng từ những lý tưởng và khuôn mẫu lỗi thời, cho ngành khoa học lẫn tránh các lý giải hợp lý, cho một tôn giáo không chấp nhận hoài nghi. Văn minh Mesopotamia như đối tác Ai Cập của nó, bị kết án. Nếu được phép quy kết một hiện tượng vô cùng phức tạp thành một công thức đơn lẻ và nhất thiết không thể chính xác ta có thể nói rằng nó chết vì tuổi già.

Các nền văn minh, tuy nhiên, hiểm khi chết mà không để lại dấu vết nào và thậm chí chúng ta, những con người của thế kỷ 20, phải nhìn nhận mình mắc nợ đối với những cư dân cổ đại Mesopotamia. Trong khi ta chế ngự được nguyên tử và thám sát các hành tinh, cũng cần phải nhớ rằng chúng ta nợ người Babylonia những nguyên tắc cơ bản của toán học và thiên văn học, kể cả cách viết số ‘theo vị trí’ và hệ thống lục thập phân theo đó chúng ta còn chia đường tròn và đồng hồ của mình. Chúng ta cũng mang ơn họ – dù đây có giá trị đáng ngờ hơn – về khối lượng kiến thức chiêm tinh mà, xét về số lượng in ấn trên mặt báo dành cho môn giả-khoa học này, vẫn chưa mất tính hấp dẫn đối với quần chúng. Đối với di sản này cần thêm vào những nguyên tắc sơ đẳng về quản trị hành chính hiệu quả (không nghi ngờ gì là một sáng tạo của người Assyria), một số định chế, như lễ đăng quang các vì vua của chúng ta, một số biểu  tượng chủ yếu dùng trong nghệ thuật tôn giáo (Hình trăng lưỡi liềm, thập tự Maltese, ‘cây đời’, chẳng hạn), một ít từ đã đến với chúng ta qua các kênh Hy Lạp hoặc Ả Rập, và cuối cùng nhưng không phải là ít nhất, những yếu tố Mesopotamia có thể phát hiện trong Kinh Thánh. Tất cả điều này dường như có vẻ quá ít ỏi so với khối lượng khổng lồ của di sản Hy-La, nhưng trưng ra các danh sách thuộc loại này, cho dù chúng được liệt kê hết mức, cũng là đối xử bất công đối với tầm quan trọng nền văn minh Sumer-Akkad nhận được trong lịch sử nhân loại. Chỉ tính đếm những di vật Mesopotamia còn sống sót đến giờ chẳng khác nào chỉ kể số món đồ mà tổ tiên xa xưa để lại, mà quên rằng các tổ tiên này đã tạo hình cho cuộc sống của cha ông chúng ta và, một cách gián tiếp, cuộc sống chúng ta.

70 thế kỷ trước khi Christ ra đời, dân cư ở Jarmo và các di chỉ Đồ Đá Mới khác ở Bắc Iraq đã đóng vai trò tích cực trong việc phát minh ra nông nghiệp, một cuộc cách mạng sinh tử trong sự phát triển của nhân loại, và hậu duệ trực tiếp của họ là trong số những người đầu tiên làm được đồ gốm trang trí, đúc khuôn và nung gạch đất sét, chế tác vật dụng kim loại. Chính trên bờ sông Tigris và các chi nhánh của nó, ở Mô gò al-Sawwan và Choga Mami, đã được tiến hành, khoảng 5,000 năm TCN, những thử nghiệm đầu tiên về canh tác có thủy lợi, một cách tân chẳng bao lâu được nhìn nhận và hoàn thiện trong đồng bằng Euphrates bát ngát, nơi khoảng 2,000 năm sau bánh xe, cánh buồm và chiếc cày và công cụ gieo hạt cũng được sáng chế, những thành phố lớn đầu tiên với các đền thờ và ‘các nhà lớn’ được xây dựng, và những tạo tác gần như hoàn hảo xuất hiện.

Vào xấp xỉ 3300 TCN, khoảng 2 thế kỷ trước người Ai Cập, người Sumer đã chế ra chữ viết, một cuộc cách mạng nền tảng khác giúp con người có thể liên lạc với những người khác ở xa; chắt lọc và phát huy tư tưởng của mình; lưu truyền chúng từ thế hệ này xuống thế hệ khác, khiến chúng bất tử vì chúng được khắc trên đá và, thường hơn, trên đất sét, cả hai đều là các chất liệu bất hoại. Cùng với người Semite ở Mesopotamia  (người Akkad, Babylonia và người Assyria), người Sumer sử dụng công cụ kỳ diệu này không chỉ cho các ghi chép của họ, mà còn để lưu lại ký ức về quá khứ; để tập họp trong một hệ thống mạch lạc một số khái niệm tôn giáo từ trước đến giờ là rời rạc; để vinh danh và phục vụ thần linh của họ và được các ngài cho nhìn lướt qua tương lai của mình; để ca tụng các vì vua của mình; để chế định ra luật lệ; để phân loại thế giới đầy mê hoặc chung quanh họ và đặt nền móng cho các nghiên cứu khoa học; để sử dụng thần thoại, truyền thuyết, thiên hùng ca và ‘túi khôn’ để diễn tả các ý tưởng mang tính triết lý của họ, xếp từ sự sáng tạo vũ trụ và con người đến vấn đề không giải quyết được của Thiện và Ác; và trong hàng ngàn những điều khác không thể liệt kê ra hết ở đây, bởi vì không dân tộc nào khác trên thế giới trong thời cổ đại tiền cổ điển đã để lại cho chúng ta quá nhiều văn bản đủ mọi loại như thế. Đây chính là ‘di sản Mesopotamia’ thực sự, không phải chỉ một vài định chế, một vài biểu tượng, và một vài từ ngữ. Chính nhờ chuỗi ấn tượng các khám phá kỹ thuật và thành tựu tri thức này mà Mesopotamia có được ‘vị trí hữu cơ’ trong đường dây quá khứ của chúng ta’. Điều quan trọng là lưu ý rằng nền văn minh nảy nở trong vùng Lưỡng Hà không gói gọn trong khu vực Tây-Nam Á châu; nó đã đi đến châu Âu và cuối cùng đến  tất cả chúng ta trong hai giai đoạn: thứ nhất từ nơi này đến nơi khác trong thời tiền sử, đối với các khía cạnh kỹ thuật của nó, rồi qua kênh sinh đôi của truyền thống Ki-tô hữu Do Thái và của văn hóa Hy Lạp, đối với các nội dung tâm linh và nghệ thuật của nó.

Các học giả cổ điển, từ lâu bị choá mắt trước điều gọi là ‘phép mầu Hy Lạp,’, giờ đã sực hiểu ra tác động viên mãn của ảnh hưởng Đông phương lên giai đoạn hình thành của tư tưởng, nghệ thuật và đạo đức học Hy Lạp – và phương Đông, trong suốt hầu hết thời cổ đại tiền cổ điển, phụ thuộc ở một mức độ lớn về văn hóa đối với Mesopotamia. Rất lâu trước khi Alexander mang Hy Lạp vào châu Á, các xứ vùng Aegean đã tiếp xúc trực tiếp với lãnh thổ Hittite và quan hệ thương mại bằng đường biển với Canaan và Ai Cập. Các thương buôn, thợ thủ công, sứ thần, ông hoàng, người đưa tin hoàng gia, thầy thuốc và thậm chí tu sĩ đi lại khắp nơi bên trong lẫn bên ngoài vùng Cận Đông.

Chúng ta biết rằng vào đầu thiên niên kỷ 2 TCN đã có thuộc địa của Assyria ở trung tâm Tiểu Á; giữa 1500 và 1200 TCN các nhà buôn Mycennae sống ở Ugarit trên bờ biển Syria và dấu niêm hình ống bằng đá quý có niên đại vào thời kỳ Kassite (ắt hẳn đó là quà tặng từ một vị vua Assyria) được tìm thấy tại cung điện Thebes thuộc Hy Lạp, trong khi các thiên hùng ca và thần thoại Mesopotamia được sao chép trên bờ sông Niles theo ký tự hình nêm của bản gốc. Do đó chúng ta không nên lấy làm ngạc nhiên khi thấy rằng văn minh Hy Lạp được ‘xây dựng trên nền tảng Đông Địa Trung Hải’ phần lớn được hình thành từ chất liệu Mesopotamia. Có người đã đề xuất là y khoa Assyria-Babylonia lót đường cho cải cách mang phong cách Hippocrates vĩ đại của Hy Lạp vào thế kỷ 4 và 5 TCN và điều chắc chắn là các nhà toán học đầu tiên của Hy Lạp, như Pythagoras (thế kỷ 6 TCN), sử dụng nhiều công trình của những người đi trước ở Mesopotamia.

Phân tích ảnh hưởng Đông phương lên nghệ thuật và văn chương Hy Lạp gặp nhiều khó khăn, vì không phải lúc nào cũng dễ dàng để phân biệt giữa sự sáng tạo kích thích, tương đương mặc dù độc lập và việc vay mượn thuần túy. Tuy vậy, hãy trích dẫn chỉ các minh họa không thể tranh cãi được, giờ phần đông công nhận rằng truyện ngụ ngôn  kiểu Aesop đã được Sumer-Akkad đi trước và rằng nhân vật Gilgamesh của Mesopotamia là khuôn mẫu của Heracles và Ulysses của Hy Lạp, trong khi chỉ cần liếc nhìn các tượng cổ của Hy Lạp là nhận ra ngay lập tức sự tương cận với các tác phẩm có trước hoặc đương thời của Mesopotamia.

Nếu Mesopotamia có thể được cho thấy đã ảnh hưởng Hy Lạp như thế nào thì không phải vô lý để tin rằng nó cũng tác động một ảnh hưởng thậm chí còn lớn hơn với các xứ sở Cận Đông khác. Trường hợp đã được nhiều lần chứng tỏ với Hittite, Hebrew, Canaan, Urartu, Media và Ba Tư Achaemenia. Nhưng đâu là di sản của Mesopotamia trong các nền văn minh Đông phương sau này? Đâu của Iran Parthia và Sassamid, đâu của Hy Lạp, La Mã và Anatolia Byzantine? Đâu của Ả Rập? Đâu của tôn giáo và các định chế Hồi giáo? Đâu của chính Iraq, từ các thời kỳ Parthia xuống đến tận ngày nay?

Thậm chí đi xa hơn, Giáo sư Rostovtzeff – một trong số ít học giả cũng thoải mái trong thế giới Hy Lạp và Đông phương – có thể viết, cách đây 50 năm: ‘Chúng ta dần dần biết rằng ảnh hưởng của Nghệ Thuật Babylonia và Ba Tư to lớn biết bao đến sự phát triển nghệ thuật của Ấn Độ và Trung Hoa.’ Chất liệu có sẵn thì đã đầy đủ, tuy phân tán; vậy mà không ai, dường như vậy, đảm nhiệm việc nghiên cứu nó từ quan điểm đặc biệt này. Nhưng việc này có thể đợi. Quá nhiều mô gò ở Syria và Iraq, quá nhiều bảng khắc và văn bản khác cần được xuất bản, bình phẩm hoặc tái xuất bản, có quá nhiều điểm trong lịch sử Mesopotamia cổ đại cần được làm rõ đến nỗi nhiều thế hệ các nhà Assyria học, nhà khảo cổ và sử gia còn phải bận bịu trong vài thế kỷ sắp tới.

Dịch xong ngày 15/1/2022


Nguồn : nghiencuulichsu.com

0 Shares:
Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You May Also Like