[23]-Pháp đô hộ (1883-1945)[24]-Nước Việt Nam mới (1945 - nay)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Hồ Văn Trung

Tên khác Hồ Biểu Chánh – Thứ Tiên
Năm sinh Giáp Thân 1884 – Mậu Tuất 1958
Tỉnh thành Tiền Giang
Thời kì – Pháp đô hộ (1883-1945)
– Nước Việt Nam mới

Nhà văn tên thật là Hồ Văn Trung tụ Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên. Con ông Hồ Hữu Tạo, anh ruột hai nhà văn, nhà báo Viên Hoành Hồ Văn Hiến và Thất Lang Hồ Văn Lang. Ông sinh năm 1884 (nhưng trong hộ tịch ghi nhỏ hơn 1 tuổi ngày 1-10-1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc tỉnh Tiền Giang). Khi viết văn, ông lấy tên tự ghép với họ là Hồ Biểu Chánh, trở thành một bút danh bất hủ, được nhiều người biết và quí mến hơn tên tộc Hồ Văn Trung của ông trên cương vị Đốc phủ sứ của chính quyền thuộc địa Nam Kì. Ông xuất thân làm kí lục, thông ngôn, thăng dần đến Đốc phủ sứ, từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi, vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ. Về sau, có lúc làm Đổng lí văn phòng cho Thủ tướng Nguyễn Văn Thinh của chính phủ Nam Kì tự trị, nên bị mang tiếng. Tuy nhiên, ông vẫn biết phục thiện, sau đó tách khỏi chính trường chuyên sống với nghiệp văn đến cuối đời.

Ông sáng tác văn học rất nhiều và để lại đời hơn 100 cuốn tiều thuyết và các thể loại khác như nghiên cứu, phê bình văn học, sáng tác tuồng hát cùng các bản dịch văn học cổ điển Trung Quốc như Tình sử, Kim cổ kì quan

Ông mất tại Phú Nhuận, Gia Định (nay thuộc TP. Hồ Chí Minh) ngày 4-11-1958 thọ 74 tuổi.

Nhà thơ Đông Hồ có đôi câu đối chiếu ông, ghép toàn các nhan sách tiểu thuyết của ông:

Cay đắng mùi đời, con nhà nghèo, Con nhà giàu, tiểu thuyết viết sáu mươi ba thiên, Vì nghĩa vì tình, Ngọn cỏ gió đùa, Tình mộng, mấy Ai làm được?
Cang thường nặng gánh, con Khóc thầm, con Cười gượng, thanh cần trải bảy mươi bốn tuổi, Thiệt giả giả thiệt, Vườn văn xưa ghé mắt, Đoạn tình còn Ở theo thời.

Các nhà phê bình, đa số đều phiền trách cuộc đời chính trị của Đốc phủ Hồ Văn Trung, nhưng không ai phủ nhận công sức đóng góp văn học của nhà văn Hồ Biểu Chánh.

Các tác phẩm Hồ Biếu Chánh mất đi để lại một thư tịch rất phong phú, gồm nhiều thể loại:

1. Dịch thuật
Tân soạn cổ tích (cổ văn Trung Quốc, Sài Gòn – 1910)
Lửa ngúng (ngún) thình lình (dịch tiếng Pháp – Sài Gòn – 1992)

2. Thơ
U tình lục (Sài Gòn – 1910)
Vậy mới phải (Long Xuyên – 1913)
Biểu Chánh thi văn (Tập I, II, III bản thảo)

3. Tùy bút Phê bình
Chưởng Hậu quân Võ Tánh (Sài Gòn – 1926)
Chánh trị giáo dục (Gò Công – 1938)
Tùy bút thời đàm (Gò Công – 1948)

4. Hồi kí
Kí ức cuộc đi Bắc Kì (1941)
Mấy ngày ở Bến Súc (1944)
Đời của tôi về quan trường, Văn nghệ, phong trào cách mạng)
Một thiên kí ức. Nam Kì cộng hòa tự trị (Gò Công – 1948)
Tâm hồn tôi (Gò Công – 1949)
Nhàn trung tạp kí (tập I, II, II; Gò Công – 1949)

5. Sân khấu
Tình anh em (Hài kịch, Sài Gòn – 1922)
Toại chí bình sinh (Hài kịch, Sài Gòn – 1922)
Đại nghĩa diệt thân(Hài kịch, Bến Súc – 1945)
Thanh Lệ kì duyên (Hát bội, Sài Gòn 1926 – 1941)
Công chúa kén chồng (Hát bội, Bình Xuân – 1945)
Xả sanh thủ nghĩa (Hát bội, BìnhXuân- 1945)
Trương Công Định qui thần (Hát bội, Bình Xuân – 1945)
Hai khối tình (Cải lương, Sài Gòn – 1943)
Nguyệt Nga cống Hồ (Cải lương, Sài Gòn – 1943)
Vì nước vì dân (Cải lương, Gò Công – 1947)

6. Đoản thiên
Chị Hai tôi (Vĩnh Hội – 1944)
Thầy Chuna trúng số (Vĩnh Hội – 1944)
Ngập ngừng (Vĩnh Hội – 1944)
Một đóa hoa rừng (Vĩnh Hội – 1944)
Hai Thà cưới vợ (Vĩnh Hội – 1944)
Hai chồng (Vĩnh Hội – 1944)
Hai vợ (Sài Gòn – 1955)
Lòng dạ đàn bà(Sài Gòn – 1955)

7. Truyện vắn
Chuyện trào phúng Tập I, II, III (Sài Gòn – 1935)
Chuyện lạ trên rừng (Bến Súc – 1945)
Truyện kì lục (Gò Công – 1948)

8. Biên khảo
Pétain cách ngôn Á đông triết lí hiệp giải (Sài Gòn – 1942)
Gia Long khai quốc võ tướng (Sài Gòn – 1944)
Gia Long khai quốc văn thần (Sài Gòn – 1944)
Gia Định Tổng trấn (Sài Gòn – 1944)
Chấn hưng văn học Việt Nam (Sài Gòn – 1940)
Trung Hoa tiểu thuyết luợc khảo (Sài Gòn – 1944)
Đông Châu liệt quốc chí bình nghị (Bến Súc – 1945)
Tu dưỡng chỉ nam (Bến Súc – 1945)
Pháp quốc tiểu thuyết lược khảo (Bình Xuân – 1945)
Một lằn chánh khí: Văn Thiên Tường (Bình Xuân – 1945)
Nhơn quần tấn hóa sử lược (Gò Công – 1947)
Âu Mĩ cách mạng sử (Gò Công – 1948)
Việt ngữ bổn nguyên (nt – 1948) – Thành ngữ tạp lục (Gò Công – 1948)
Phật tử tu tri (Gò Công – 1948)
Nho học danh thơ (Gò Công – 1948)
Thiền môn chư Phật (Gò Công – 1949)
Địa dư đại cang (Gò Công – 1949)
Hoàng cầu thông chí (Gò Công – 1949)
Phật giáo cảm hóa Trung Hoa (1950)
Phật giáo vào Việt Nam (1950)
Trung Hoa cao sĩ, ẩn sĩ. xử sĩ (1951)
Nho giáo tinh thần (1951)

9. Tiểu thuyết
– 1. Ai làm được (Cà Mau – 1912)
– 2. Chúa tàu Kim Qui (Sài Gòn – 1922)
– 3. Cay đắng mùi đời (Sài Gòn – 1923)
– 4. Tình mộng (Sài Gòn – 1923)
– 5. Một chữ tình (Sài Gòn – 1923)
– 6. Nam cực tình huy (Sài Gòn – 1924)
– 7. Nhơn tình ấm lạnh (Sài Gòn – 1925)
– 8. Tiền bạc, bạc tiền (Sài Gòn – 1925)
– 9. Thầy Thông ngôn (Sài Gòn – 1926)
– 10. Ngọn cỏ gió đùa (Sài Gòn – 1926)
– 11. Chút phận linh đinh (Càn Long – 1928)
– 12. Kẻ làm người chịu (Càn Long – 1928)
– 13. Vì nghĩa vì tình (CL- 1929)
– 14. Cha con nghĩa nặng (CL – 1929)
– 15. Khóc thầm (CL – 1929)
– 16. Nặng gánh cang thường (CL- 1929)
– 17. Con nhà nghèo (CL – 1930)
– 18. Con nhà giàu (CL – 1931)
– 19. Ở theo thời (Sài Gòn – 1935)
– 20. Ông Cử (Sài Gòn – 1935)
– 21. Một đời tài sắc (Sài Gòn – 1935)
– 22. Cười gưọng (Sài Gòn – 1935)
– 23. Dây oan (Sài Gòn – 1935)
– 24. Thiệt giả, giả thiệt (Sài Gòn – 1935)
– 25. Nợ đời (Vĩnh Hội – 1936)
– 26. Đóa hoa tàn (Vĩnh Hội – 1936)
– 27. Lạc đường (Vĩnh Hội – 1937)
– 28. Từ hôn (V.H – 1937)
– 29. Tân Phong nữ sĩ (V.H – 1937)
– 30. Lời thề trước miếu (V.H – 1938)
– 31. Tại tôi (Vĩnh Hội – 1938)
– 32. Bỏ chồng (V.H – 1938)
– 33. Bỏ vợ (V.H – 1938)
– 34. Ý và tình (V.H – 1938 – 1942)
– 35. Người thất chí (V.H – 1938)
– 36. Tìm đường (V.H – 1939)
– 37. Hai khối tình (V.H – 1939)
– 38. Đoạn tình (V.H – 1940)
– 39. Ái tình miếu (V.H – 1941)
– 40. Cư Kinh (V.H – 1941)
– 41. Me ghẻ con ghẻ (V.H – 1943)
– 42. Bức thơ hối hận (Gò Công – 1953)
– 43. Trọn nghĩa vẹn tình (Gò Công – 1953)
– 44. Nặng bầu ân oán (Gò Công – 1954)
– 45. Đỗ Nương Nương báo oán (Sài Gòn – 1954)
– 46. Hai chồng (Sài Gòn – 1955)
– 47. Hai vợ (Sài Gòn – 1955)
– 48. Lá rụng hoa rơl (S21 Gòn – 1955)
– 49. Đại nghĩa diệt thân (Sài Gòn – 1955)
– 50. Trả nợ cho cha (Sài Gòn – 1956)
– 51. Những điều nghe thấy (Sài Gòn – 1956)
– 52. Ông Cả Bình Lạc (Sài Gòn – 1956)
– 53. Một duyên hai nợ (Sài Gòn – 1956)
– 54. Vợ già chồng trẻ (Phú Nhuận – 1957)
– 55. Trong đám cỏ hoang (Phú Nhuận – 1957)
– 56. Hạnh phúc lối nào (Phú Nhuận – 1957)
– 57. Sống thác với tình (Phú Nhuận – 1957)
– 58. Nợ tình (Phú Nhuận – 1957)
– 59. Đón gió mới, nhắc chuyện xưa (Phú Nhuận – 1957)
– 60. Nợ trái oan (Phú Nhuận – 1957)
– 61. Chị Đào, chị Lí (Phú Nhuận – 1957)
– 62. Tắt lửa lòng (Phú Nhuận – 1957)
– 63. Lẫy lừng hào khí (Phú Nhuận – 1958)

Phần đóng góp của Hồ Biểu Chánh vào nền học thuật Việt Nam quả thật vô cùng phong phú. Điều này không một nhà nghiên cứu nào có thể phủ nhận được. Phủ nhận chỉ làm cho văn học thêm nghèo hơn trong một nền văn học còn thiếu vắng nhiều khuôn mặt như Hồ Biểu Chánh.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..