[22]-Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Đoàn Hữu Trung

Năm sinh Giáp Thìn 1844 – Bính Dần 1866
Tỉnh thành Thừa Thiên-Huế
Thời kì – Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)

Liệt sĩ đời Tự Đức, quê làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.

Ông nổi tiếng tài hoa, năm Giáp tí 1864, ông được Tùng Thiện vương Miên Thẩm gả con gái là Thế Cúc. Tuy ông là con rể Tùng Thiện vương nhưng vì sinh truởng trong gia đình nông dân, nên ông vẫn giữ được mối liên hệ với quần chúng lao động.

Ông không phục vua Tự Đức, đứng về phía những người chủ chiến và tích cực kháng cự giặc Pháp, ông cùng hai em Đoàn Hữu Ái và Đoàn Tử Trực, các đồng chí là Trương Trọng Hòa, Phạm Lương, Tôn Thất Cúc, Tôn Thất Giác, Bùi Văn Liệu, mưu cuộc đảo chính để đưa hoàng tôn Ưng Đạo (con An Phong công Hồng Bảo – anh vua Tự Đức) lên ngôi. Lại ngầm liên kết với vị hòa thượng trụ trì chùa Túy Vân là Nguyễn Văn Quí, bàn việc chống triều đình. Nhóm ông vờ lấy danh nghĩa một thi xa gọi là Đông Sơn thi tửu hội đề che mắt nhà cầm quyền đương thời mỗi khi nhóm họp.

Thế rồi, năm Bính dần 1866, ngày 8-9 âm lịch cuộc khởi nghĩa phát động, cờ đề “Hoàng tôn nghĩa cử”. Những người tham gia khởi nghĩa phần đông là nhân công đang uất hận vì bị bắt lao dịch khắc nghiệt để xây dựng Khiêm Lăng (lăng Tự Đức) cho Tự Đức. Họ dùng chày vôi, dụng cụ lao động làm võ khí, nên tục gọi là ngiặc chày vôi”.

Nhưng cuộc đảo chính thất bại, đầu tiên bị Chưởng vệ Hồ Oai kịp thời ngăn chặn, rồi đến Chánh vệ úy Cầm Y là Nguyễn Thịnh và chỉ huy sứ Phạm Viết Trang dập tắt.

Cả nhà Ưng Đạo đều bị hại. Nhạc phụ ông là Tùng Thiện vương bị liên lụy, trách phạt, riêng ông và hai người em đều bị giết lúc mới 22 tuổi.

Hợp tuyển thơ văn yêu nước cách mạng nửa sau thế kỷ XIX cho biết “Tác phẩm của Đoàn Hữu Trưng còn lại ngày nay là bài Trung nghĩa ca, sáng tác trong thời gian bị giam, theo thể lục bát, dài 498 câu kể lại tường tận cuộc khởi nghĩa. Tuy còn nhiều hạn chế, bài ca đã phản ánh một cách tương đối sâu sắc cuộc đấu tranh mạnh mẽ của những người lao động đã vùng lên từ cuộc sống cực khổ ở công trường xây dựng Khiêm Lăng. Đồng thời bài ca cũng đã nghiêm khắc lên án triều đình Tự Đức về cả hai mặt đối nội và đối ngoại.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..