[22]-Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Đỗ Trọng Vĩ

Năm sinh Kỉ Sửu 1829 – Kỉ Hợi 1899
Tỉnh thành Bắc Ninh
Thời kì – Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)

Danh thần, triều Tự Đức, tự là Tham Thiền hiệu là Khôi Hữu, quê làng Đại Mão, huyện Siêu Loại, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Hoài Thượng huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh).

Năm Giáp tí đời Tự Đức thứ 17 (1864) ông thi Hương đỗ cử nhân hạng ba (Nguyễn Khuyến đỗ Giải nguyên) tại trường thi Hà Nội. Sơ bổ Huấn đạo huyện Văn Giang, Giáo thọ Từ Sơn, rồi trải qua các chức Bắc Kì Bang tá quân vụ, án sát Cao Bằng, Thái Nguyên.

Năm Mậu dần 1878 ông nhận lệnh triều đình Huế phối hợp với Đề đốc Quảng Tây (TQ) là Phùng Tử Tài đánh bắt được tên phản loạn Lý Dương Tài, sang cướp Việt Nam tại núi Nghiêm Hậu thuộc địa phận tỉnh Thái Nguyên. Thắng giặc, ông được thăng Tuần phủ Hưng Yên, nhưng bị bệnh nên xin về nghỉ tại quê nhà.

Sau đó ông được bổ Đốc học tỉnh Bắc Ninh (bao gồm Bắc Ninh, Bắc Giang và một phần Hà Nội, Phúc Yên…). Ít lâu sau, Pháp chiếm thành Hà Nội (1882) ông xin về ẩn dật ở chùa Hàm Long (huyện Võ Giàng, tỉnh Bắc Ninh). Tại đây ông soạn cuốn Bắc Ninh địa dư chí vào các năm 1882-1885.

Tuy đã lui về ẩn dật, nhưng trước tình thế mới, các bạn (Phó bảng Nguyễn Đức Nhuận) bị hãm hại, ông phải về Bắc Ninh làm đốc học tỉnh nhà cho đến năm 1898 thì về hưu.

Gần trọn đời làm nghề dạy học từ Huấn đạo, Giáo thọ, Đốc học, ông đã đào tạo được một thế hệ học trò trong đó có các vị xuất thân đại khoa như: Đình nguyên Nguyễn Đình Tuân, Tiến sĩ Đàm Thận Bình và nhiều phó bảng, cử nhân.

Lúc sinh thời các bạn đồng môn, đồng khoa, môn sinh có nhiều liễn đối trang tặng ông. Lúc ông về trí sĩ các bạn đồng khoa. Tam nguyên Nguyễn Khuyến, tiến sĩ Dương Khuê, phó bảng Bùi Văn Quế, phó bảng Dương Danh Lập mừng ông bức cuốn thư các có câu:

Tương lão mưu qui khứ,
Niên ông niên tối tôn.
Quế phương giai hạ tử,
Trúc lập thị tiền tôn.
Thực đức bằng tiên ấm,
Ưu nhàn câm chủ ân.
Kinh tàn gia huấn tại,
Loạn định cố sơn tồn.
Dật dã tẫm u hứng
Phong ba tỉnh mộng hồn.
Hồi tư đồng bảng hữu
Thanh phước tiện cao môn.

Bản dịch:

Bác tính chuyện điền viên,
Đương khi được kính tôn.
Dưới thềm, con hiển đạt,
Trước gối cháu hiền ngoan.
Phúc âm nhờ tiên tổ,
Thanh nhàn chịu hoàng ân.
Nho suy, gia đạo vững,
Trị, loạn nên nhân còn.
Cao nhã tìm thú ẩn,
Nguy nan tỉnh mộng hồn
Cùng khoa cùng nhớ bạn,
Thế phiệt phúc nhiều hơn.

Ông mất ngày 19 tháng 9 năm Kỉ hợi, hưởng thọ 71 tuổi.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..