[22]-Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)[23]-Pháp đô hộ (1883-1945)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Đỗ Đăng Tuyển

Năm sinh Ất Mão 1856 – Tân Hợi 4/4/1911
Tỉnh thành Quảng Nam
Thời kì – Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)
– Pháp đô hộ (1883-1945)

Nhà yêu nước còn gọi là Đỗ Đăng Cát, biệt hiệu Hi Đào, bí danh hoạt động là Sơn Tẩu, thường gọi là cụ Ô Gia.

Ông là đồng chí nhiệt tình của Sào Nam Phan Bội Châu quán làng Ô Gia, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, ông xuất thân là một nhà nho, nhưng lại chú tâm vào cái học thực nghiệp.

Năm 1882, ông đang làm Quản hiệu Sơn Phòng thì gặp lúc giặc Pháp xâm lược nước nhà. Tại Quảng Nam, các nghĩa dân, nghĩa sĩ nổi lên chống Pháp và Triều đình Nguyễn đầu hàng, ông cáo bệnh về nghỉ.

Năm 1885 hưởng ứng phong trào nghĩa hội do Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu lãnh đạo, ông được cử làm Tán tương nghĩa hội, năm 1886 phong trào Cần Vương tan rã, Nguyễn Duy Hiệu bị Pháp và tay sai Nam triều giết, ông lui về quê ẩn mình nuôi chí báo cừu.

Gần 20 năm, ẩn thân nơi làng hẻo lánh, mãi đến 1902, Phan Bội Châu khởi động công cuộc Đông du, ông trở nên một trong những nhân vật hoạt động kiệt hiệt nhất ở Quảng Nam vào những năm ấy. Năm 1908, phong trào Duy tân và Đông du bị thực dân Pháp đàn áp, chúng bắt lưu đày và tàn sát nhiều nhà lãnh đạo, ông trốn thoát, mãi đến năm 1910 chúng mới bắt được ông. Khi chúng giải ông đến tỉnh Quảng Nam, giữa đường ông uống thuốc độc tự tử nhưng thuốc không chuyển, khi đến bờ sông thuộc làng Thanh Hà (gần thị xã Hội An) ông nhảy xuống sông tự trầm, nhưng ông vẫn bị bọn lính vớt lên. Về đến Hội An, ông bị chúng tra tấn cực hình, nhưng ông không tiết lộ một chi tiết nào. Thế rồi ông bị giam, đến tháng 11 năm 1910, chúng giải ông đi bộ ra Nghệ An để đối chất với các đồng chí hoạt động ngoài ấy. Tháng 3 năm 1911, ông bị kết án đày Lao Bảo.

Từ Nghệ An chúng đưa ông đi Lao Bảo, khi đến Quảng Trị chúng tạm giam ông tại nhà lao Quảng Trị. Từ nhà lao Quàng Trị phải đi bộ lên Lao Bảo, ông đã tuyệt thực trên đường đi đến chết. Tới nơi ông mất nhằm ngày 4-4-1911.

Phan Bội Châu khi viết lịch sử Tiều La Nguyễn Thành có bài văn tế khóc Tiểu La và bài thơ khóc Đỗ Đăng Tuyển.

Đau đời nên phải nhớ tiên sinh,
Ưu quốc xưa nay bậc lão thành.
Tay trắng đỡ liều vai gánh nặng,
Lòng son đưa trước bọn đầu xanh.

Bội Châu không bác e vô sự,
Lao Bào nhờ ông mới có danh.
Tiếc Bác lấy gì an ủi bác,
Một chung rượu lạt máu thần minh.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..