[23]-Pháp đô hộ (1883-1945)[24]-Nước Việt Nam mới (1945 - nay)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Diêp Trương Thuần

Tên khác Đôn Hậu – Trừng Nguyên
Năm sinh Ất Tị 1905 – Nhâm Thân 1992
Tỉnh thành Quảng Trị
Thời kì – Pháp đô hộ (1883-1945)
– Nước Việt Nam mới

Thiền sư hiện đại, pháp danh Trừng Nguyên pháp hiệu Đôn Hậu, nên thường gọi là Hòa thượng Thích Đôn Hậu, tục danh là Diệp Trương Thuần thuộc đời thứ 8 thiền phái Liễu quán, sinh ngày 16 tháng 2 năm 1905 (âm lịch 13 tháng giêng năm Ất tị). Quê làng Xuân An, tổng An Đồn, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị (nay là xã Triệu Thượng thuộc huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị).

Xuất thân trong một gia đình nho học, mồ côi mẹ từ năm lên 9, được phụ thân nuôi dạy rất chu đáo, đến năm 17 tuổi đã làu thông kinh sử Nho học. Năm 1924 ông xuất gia học Phật với Hòa thượng Tâm Tịnh tại chùa Tây Thiên (Huế), năm 1932 học Đại học Phật giáo và thọ tam giới đàn cụ túc tại giới đàn chùa Từ Hiếu ở Huế.

Năm 1936 tốt nghiệp, được mời làm giảng sư của Hội An Nam Phật học, cùng thời điềm này ông giảng dạy cho các Phật học đường Bảo Quốc, Tây Thiên (Huế), Phổ Đà (Đà Năng)…

Những năm 1940-1941 ông sang thuyết giảng tại các chùa ở Lào, tham dự các lễ tại các địa phương có nhiều chùa tại vương quốc Phật giáo này.

Sau Cách mạng tháng Tám ông trú trì chùa Linh Mụ (Thiên Mụ), giữ chức Chủ tịch Hội Phật giáo cứu quốc Trung Bộ, kiêm Chủ tịch Hội Phật giáo tỉnh Thừa Thiên. Năm 1947 mặt trận Huế vỡ, ông bị Pháp bắt giam một thời gian; sau khi được trả tự do, ông làm Hội trưởng Tổng trị sự Hội Phật học Trung Việt, Giám luật Giáo hội Tăng già toàn quốc, chủ nhiệm báo Liên Hoa ở Huế.

Năm 1963, ông là một trong các hòa thượng Phật giáo cùng lãnh đạo đồng bào theo đạo Phật tranh đấu chống chính sách kì thị tôn giáo, độc tài Ngô Đình Diễm.

Ngày 20-8-1963 ông bị bắt tại chùa Linh Mụ cùng với các hòa thượng, tăng tủ khác. Sau khi chính quyền Ngô Đình Diễm bị lật đổ (1964) ông được cử làm Chánh đại diện Phật giáo thống nhất miền Vạn Hạnh (từ Quảng Trị đến Quảng Nam).

Trong những năm chiến tranh ác liệt, nhất là vào năm 1968, ông được mời tham gia liên minh các Lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam được bí mật đưa lên chiến khu, rồi ra Hà Nội, giữ các chức vụ: Ủy viên Hội đồng cố vấn CPCMLTMNVN, cố vấn chính phủ cách LTMNVN, Đại biểu Quốc hội khóa VI… Trong thời gian ở Hà Nội ông đi thăm một số nước Liên Xô (cũ), Mông Cổ (cũ), Trung Quốc…

Sau năm 1975, ông trở về Huế trụ trì chùa Linh Mụ nơi ông từng trụ trì từ trưóc. Năm 1979 ông được cung thỉnh xử lí Viện Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đầu năm 1980 ông là cố vấn Ban vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam. Sau đại hội ông được suy tôn là Phó Pháp chủ kiêm Giám luật hội đồng chứng minh phật giáo Việt Nam. Trong thời gian này tuy tuổi già sức yếu ông vẫn làm Đàn đầu Hòa thượng các đại giới đàn tại các Thiền viện lớn ở Huế.

Ngày 3-4-1992 (Âm lịch 21-3 Nhâm thân) ông viên tịch tại chùa Linh Mụ hưởng thọ 87 tuổi đời, 67 tuổi Phật để lại sự thương tiếc trong lòng hàng vạn Phật tử và đồng bào trong toàn quốc.

Ông là tác giả các sách về phương pháp tu học và giáo lí đạo Phật:

– Cách thức sám hối các tội đã phạm
– Phương pháp tu quán
– Tự nhiếp pháp
– Cảm ứng tự nhiên
– Đâu là con đường hạnh phúc
– Đồng mông chỉ quán
– Sinh mệnh vô tận hay là thuyết luân hồi
– Luật Tứ phần Tì kheo ni
Và rất nhiều chuyên luận đăng trên Viên ÂmLiên Hoa xuất bản ở Huế.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..