Loading

[20]-Trịnh – Nguyễn (1533-1788)

Bùi Trụ

Danh thần, lúc đầu làm quan nhà Mạc, sau qui thuận nhà Lê Trung Hưng, không rõ năm sinh, năm mất. Con Quản Quốc công Bùi Xương Trạch, anh Mai Quận công Bùi Vịnh và là chú Tiên Quận công Bùi Bình Uyên. Danh sĩ Bùi Huy Bích cũng dòng dõi họ Bùi này. Quê làng Định Công, huyện Thanh Trì, trú làng Thịnh Liệt công trong huyện ấy, thuộc tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Ông làm quan nhà Mạc đến chức Tân lí, tước Đồng Giang Hầu. Sau, ông dẫn cháu là Bùi Bình Uyên, cùng với Lê Bá Ly (nhạc phụ Bùi Bình Uyên) vào Thanh Hóa, qui thuận nhà Lê, được vua trọng dụng, làm đến Thượng thư bộ Hộ, gia phong Hiệp mưu tá lí công thần, tặng Thái phó.

Bùi Thị Lẫm

Hiền phụ, vợ Tổng binh Mạc Cửu, mẹ ruột danh sĩ Tổng binh Đại đô đốc Mạc Thiên Tích, quê ở Long Thành, dinh Trấn Biên (Biên Hòa) nay thuộc tỉnh Đồng Nai. Thuở trẻ bà rất chăm lao động, theo gia đình lưu lạc nhiều nơi, sau cùng gia đình sang lập nghiệp ở Trủng Kè (cảng Ream-Campuchia) gần Kompongsom. Gặp lúc quân Xiêm (Thái Lan) sang đánh phá Hà Tiên, bắt Mạc Cửu định đưa về nước họ. Trong cơn nguy khốn, Mạc Cửu trốn thoát, lần tránh ở Trủng Kè, được bà cứu giúp. Nhân đó, bà trở nên vợ thứ của ông (vợ chánh của ông người Trung Quốc). Một thời gian sau, vợ chồng bà về tại Hà tiên gây dựng lại sự nghiệp, rồi xin thần phục chúa Nguyễn, triều đình chúa Nguyễn phong Mạc Cửu làm Tổng binh cai quản đất Hà Tiên….    read more 

Bùi Bỉnh Uyên

Danh thần đời Lê Trung tông, tự Chuyết Phu, quê làng Định Công, huyện Thanh Đàm, tỉnh Hà Đông (nay thuộc tỉnh Hà Tây), ông là cháu Quảng Quốc công Bùi Xương Trạch, con Mai Lĩnh hầu Bùi Vịnh. Ông nổi tiếng anh tài, đi thi Hương đỗ tam trường, rồi nhân có tang, không thi cử nữa, được Lê Bá Ly tri ngộ gả con. Năm Thuận Bình 1 (Kỉ dậu 1549), ông đã 29 tuổi, cùng với bác là Bùi Trực đem cả họ vào ở Thanh Hóa, rồi cùng cha vợ là Lê Bá Ly vào chầu Lê Trung tông được trọng dụng. Đời Anh tông, khoảng năm Chính Trị (1558-1571), vinh phong Tuyên lực công thần. Đời Thế tông, năm Quang Hưng 14 (Tân mão 1591) gia phong Thần tín công thần, lịch nhậm Phủ doãn Phụng Thiên và Thị lang bộ Hình, bộ Hộ. Năm…    read more 

Lê Đản

Danh sĩ đời Lê mạt, không rõ năm sinh, năm mất, quê làng Thịnh Cuông, huyện Chân Định, trấn Sơn Nam, sau là Trực Ninh, tỉnh Nam Định (nay vẫn thuộc Nam Định). Khi nhà Nguyễn thành lập, khoảng năm 1807, ông làm Đốc trấn Lạng Sơn, và được cử làm Giám thị trường thi Hiến Nam (trường thi này đặt ở bãi sông xã Hoa Dương, làng Kim Động, tỉnh Hưng Yên nay thuộc Hải Dương). Ông có soạn quyển Nam Hà tiệp lục. Sách chép lược sử các chúa Nguyễn ở miền Nam từ gốc tích đến năm Gia Long thứ 3 (1804).

[NBLSVN] Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh (1533-1788)

Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh (1533-1788) 255 năm, 16 đời vua 5. Lê Kính Tông (1600-1619) Lê Kính Tông tên húy là Duy Tân, con thứ của Lê Thế Tông, ngày 27 tháng Tám năm Kỷ Hợi – 1599 được Trịnh Tùng lập làm vua, khi đó mới 11 tuổi. Từ đầu thế kỷ 17, sau khi đánh tan nhà Mạc, giành lại được kinh đô Đông Đô (dư đảng nhà Mạc phải rút lên Cao Bằng) quyền lực của Trịnh Tùng ngày càng lớn, triều đình chỉ biết phục vụ nhà chúa. Trước tình hình đó, vua Lê Kính Tông cùng với Trịnh Xuân – con thứ của Trịnh Tùng – mưu giết Trịnh Tùng. Việc bại lộ, Trịnh Xuân bị bắt giam, còn Kính Tông bị bức thắt cổ chết vào ngày 12 tháng Năm năm Kỷ Mùi – 1619. Lê Kính Tông ở ngôi được 19…    read more 

Hỗ trợ