Loading

[18]-Triều Lê Sơ (1428-1527)

Mạc Quyết

Thân vương nhà Mạc. Em Mạc Đăng Dung, không rõ năm sinh, năm mất. Ông cùng với anh là Đăng Dung và Đốc đều là bề tôi nhà Lê, đời Lê Chiêu tông. Đốc được phong tước Trào Quận Công; ông đưọc phong Đông Sơn Hầu, rồi thăng Đông Quận Công; còn Đăng Dung tước Vũ Xuyên Bá, thăng dần đến An Hưng vƯƠNG, bèn sinh lòng cướp quyền mưu đồ dựng nghiệp lớn. Ông cũng tán thành ý đồ của anh, ba anh em ông ngầm kết vây cánh mong lật đổ nhà Lê. Năm Đinh hợi 1527 Đăng Dung cướp quyền vua thành công, có ông làm hậu thuẫn đắc lực và em rể Đăng Dung là Võ Hộ (sau đổi tên là Mạc Bang Hộ) ủng hộ tận tâm. Nhà Mạc thành lập, Đăng Dung phong ông làm Tín vương, Đốc làm Từ vương, Võ Hộ tức Mạc…    read more 

Lê Ý

Ngoại thích nhà Lê, không rõ năm sinh, năm mất. Khi họ Mạc tiếm ngôi được 4 năm (Canh ngọ 1330), ông nổi quân ở Đa Châu, tự lập làm vua, đặt hiệu năm là Quang Thuận. Chỉ trong mươi ngày, các quận huyện đều hưởng ứng, số quân có đến mấy vạn người, thanh thế rất lừng lẫy. Mạc Đăng Dung mấy lần đem quân đến đánh đều bị ông đánh tan. Rồi tiếp đó tiến đóng ở thành Tây Đô, lập hành dinh tại xã Nghĩa Lộ. Ít lâu lại lui quân về đóng ở Đa Châu như cũ. Dần dần đắc ý sinh kiêu, không phòng bị, ông bị các tướng nhà Mạc thừa cơ đánh úp giết ông chết tại trận. Tự Đức vịnh sử về Lê Ý có câu: “Tiến thoái Đa Châu do khí tiểu, Thiên thu nhưng thượng thử trung can”. Nghĩa: Lên…    read more 

Lê Tuấn Kiệt

Văn thần đời Lê Cung đế, không rõ năm sinh, năm mất, quê làng Tân Minh, trấn Thanh Hóa (nay là tỉnh Thanh Hóa). Ông làm đến Thượng tể, tính khảng khái có khí tiết được sĩ phu trọng vọng. Năm Đinh hợi 1527, Mạc Đăng Dung đảo chính, ông không khuất phục, lui về Thanh Hóa tập hợp quân dân, lấy danh diệt Mạc phù Lê. Đăng Dung sai người đem vàng bạc đến khuyên dỗ về hàng sẽ phong cho tước vương. Ông cương quyết không qui thuận, chém sứ Mạc, rồi dấy binh chống cự. Ít lâu ông bị tướng nhà Mạc đánh bại giết chết. Sau, nhà Lê Trung hưng khen tặng ông là bậc tiết nghĩa, truy phong ông làm Phúc thần thượng đẳng. Vua Tự Đức đề vịnh: “Ti từ hậu tệ mạt như hà, Kim thạch thanh thanh vĩnh bất ma. Đường tí cự…    read more 

Đỗ Oánh

Văn thần đời Lê Uy Mục, không rõ năm sinh, năm mất, quê làng Ngoại Lãng, huyện Thư Trì, tỉnh Nam Định. Năm Mậu thìn 1508, ông đỗ Tam giáp tiến sĩ. Ông nổi tiếng văn học, tính khảng khái cương trực, có tiết nghĩa, làm đến Thượng thư bộ Lễ. Đinh hợi 1527, Mạc Đăng Dung tiếm ngôi, ông về quê ở ẩn, không ra làm quan với nhà Mạc. Khí tiết được nhân dân đương thời mến phục. Trong cơn loạn lạc, ông vẫn vì dân mà cứu loạn, bỏ mình trong khói lửa chiến tranh. Ông được phong Phúc thần. Có đền thờ ở quê ông, tục gọi đền thờ Đỗ Thượng thư.

Xa Khả Tham

Cũng gọi là Xa Kha Sâm, Danh tướng trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, không rõ năm sinh năm mất. Ông vốn là Tù trưởng người Thái, Mộc Châu, khi giặc Minh sang cướp phá, ông điều động dân quân chống cự quyết liệt. Năm Ất tị 1425, nhóm nghĩa quân của ông mở rộng địa bàn chiến đấu khắp vùng Gia Hưng (Sơn La, Lai Châu và một phần Hà Sơn Bình). Giữa năm 1425 ông kết hợp với nghĩa quân Lam Sơn, cùng sát cánh với chiến hữu Trịnh Khả, Phạm Văn Xảo giải phóng miền Tây Bắc. Ngoài ra, ông còn vận động nhân dân tiếp tế lương thực, voi, ngựa cho Bình Định vương Lê Lợi. Năm Mậu thân 1428 khởi nghĩa thành công ông được phong là Nhập nội Tư không, Đổng bình chương sự, tri Đà Giang trấn thượng (quản lí vùng đất thượng…    read more 

Trần Lựu

Danh tướng trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, không rõ năm sinh năm mất. Con nghĩa sĩ Trần Lượng đời Hậu Trần. Quê xã Lỗ Tự, huyện Thụy Nguyên (nay thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnhThanh Hóa) được theo họ vua Lê, nên cũng gọi là Lê Lựu. Cha ông giúp vua Trần Trùng Quang chống giặc Minh và hi sinh. Về sau ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn ngay từ buổi đầu hội thề ở Lũng Nhai. Ông chỉ huy đội quân thiết, đội hoạt động ở Nghệ An, nổi tiếng trong nhiều trận đánh lớn. Cuối năm 1426, ông cùng Lê Bôi, Trịnh Khả, giải phóng các vùng Hồng Châu Bắc Giang, Lạng Giang, Lạng Sơn, rồi được phong làm Tổng tri Hồng Châu kiêm tri An Bang (1427). Sau đó, ông nhận lệnh điều động quân sĩ chặn viện binh của Liễu Thăng nơi Lạng Giang. Ông…    read more 

Phạm Văn Xảo

Danh tướng trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, quê ở miền Kinh Lộ, tức vùng kinh đô Thăng Long (nay thuộc Hà Nội). Ông tham gia khởi nghĩa từ buổi đầu được Bình Định vương Lê Lợi trao chức vụ Khu mật đại sứ. Năm Bính ngọ 1426, ông cùng Lý Triện, Trịnh Khả đóng bản doanh ở phía Tây Ninh Giang để uy hiếp Đông Đô, Tam Giang, rồi đánh tan đạo quân do Vương An Lao chỉ huy. Nghĩa quân giải phóng một vùng rộng lớn gồm Gia Hưng, Thao Giang, Quy Hóa (nay thuộc các tỉnh Vĩnh Phú, Hoàng Liên Sơn, Sơn La…). Cuối năm Đinh mùi 1427 ông cùng Trịnh Khả đánh tan viện binh của Mộc Thạnh ở ải Lê Hoa, từ đó quân Minh bắt đầu tan rã. Sau khi chống ngoại xâm thành công (1428) ông được phong Thái bảo theo họ vua. Năm…    read more 

Phạm Vấn

Danh tướng đời Lê Thái tổ, quê làng Nguyên Xá, huyện Lương Giang (nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ buổi đầu, lập nhiều chiến công hiển hách. Trong trận Bồ Mộng (thuộc vùng thượng du Thanh Hóa) phá vỡ đạo quân của Lý Bôn. Phương Chính (Canh tí 1420), trận phá vây ở Khôi Sách (1422), chém tướng giặc Phùng Quí; trận Nghệ An (1424) ông chiến thắng ở Trà Lân, Khả Lưu, trận đánh Xương Giang (1427), ông cùng Trần Nguyên Hãn, Lê Sát, vây chặt toàn quân của tướng giặc Thôi Tụ, Hoàng Phúc khiến Vương Thông phải xin hòa. Kháng chiến thành công (1428) ông được phong Đại tướng quân, tước Thượng Tứ Tự, rồi ít lâu thăng Tể phụ. Nhập nội Kiểm hiệu. Bình chương quân quốc trọng sự. Năm 1429, tấn phong ông tước Huyện Thượng…    read more 

Nguyễn Chích

Danh tướng trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và là trọng thần giữ phần đất phía Nam của triều Lê sơ, được cho theo họ vua, nên cũng gọi là Lê Chích. Quê ở thôn Mạc, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã Vạn Lộc, Đông Sơn, Thanh Hóa). Ông thuở trẻ nghèo khổ, chăn trâu ở vùng núi Hoàng, núi Nghiêu. Khoảng cuối đời Trần, quân Minh xâm chiếm nước ta, ông chiêu tập nghĩa quân hơn 1000 người, đắp 1ũy trong vùng động Hoàng Nghiêu làm căn cứ kháng chiến. Sau ông theo giúp Lê Lợi, làm Nội Thiếu úy công trận rất nhiều, lại từng hiến nhiều kế sách rất hay, thu đạt thắng lợi. Cuối năm 1427, ông cùng Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả đánh tan quân Mộc Thạch ở Lê Hoa (Hà Tuyên). Sau khi đuổi xong giặc Minh (1428), ông lại tham gia…    read more 

Lê Ngân

Võ tướng đời Lê Thái tổ, không rõ năm sinh năm mất, quê huyện Thụy Nguyên, tỉnh Thanh Hóa. Nhiệt thành ái quốc, ông theo dưới cờ giải phóng của Bình Định vương Lê Lợi ngay từ khi mới dấy quân. Trong các trận đánh ải Khả Lưu và vây thành Nghệ An, ông lập nhiều chiến công hiển hách. Cuộc khởi nghĩa thành công, ông được phong tước Á Thượng Hầu, nghiễm nhiên là vị đại thần tại triều. Đời Lê Thái tông, ông làm phụ tướng (Ất mão 1435) nhưng được ít lâu thì bị ghép vào tội nặng, phải tự tử. Sang đời Lê Nhân tông, khoảng năm Mậu thìn 1448, nhà vua truy niệm công lao ông, ban cho con cháu ông 100 mẫu ruộng. Đến đời Thánh tông, Giáp thìn 1484, truy tặng ông là Thái phó.

Nguyễn Trãi

Danh sĩ, nhà văn hóa lớn, hiệu Ức Trai, cháu ngoại Tư Đồ Trần Nguyên Đán – tôn thất nhà Trần – con danh sĩ Nguyễn Ứng Long tức Nguyễn Phi Khanh. Quê làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Đông (nay là thôn Nhị Khê, xã Quốc Tuấn, huyện Thượng Phúc, thuộc tỉnh Hà Tây). Năm Canh thìn 1400 ông đỗ Thái học sinh, đời nhà Hồ, lúc 20 tuổi. Làm Ngự sử đài chánh chưởng. Năm Đinh hợi 1407, nhà Minh sang cướp nước ta, cha ông bị chúng bắt giải về Kim Lăng, ông đi theo đến Nam Quan gặp cha. Cha ông khuyên ông hãy trở về lo việc báo thù cho cha, rửa hận cho nước, ông vâng lời nhưng khi trở về, ông bị chúng bắt giam lỏng ở phía Nam thành Đông Quan (Hà Nội). Năm Mậu tuất 1418 ông cùng Trần…    read more 

[NBLSVN] Triều Lê Sơ (1428-1527)

Triều Lê Sơ (1428-1527) Quốc hiệu Đại Việt, kinh đô Đông Đô, 99 năm, 10 đời vua 1. Lê Thái Tổ (Lê Lợi, 1428-1433) Lê Lợi sinh ngày 6 tháng Tám năm Ất Sửu – 10/9/1385, là con trai thứ 3 của ông Lê Khoáng và bà Trịnh Thị Thương, người ở hương Lam Sơn, huyện Lương Giang, trấn Thanh Hoá. Ngay từ khi còn trẻ, Lê Lợi đã tỏ ra là người thông minh, dũng lược, đức độ hơn người, dáng người hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai phải có nốt ruồi đỏ lớn, tiếng nói như chuông, bậc thức giả biết ngay là người phi thường. Lớn lên, ông làm chức Phụ đạo ở Khả Lam, ông chăm chỉ dùi mài đọc sách và binh pháp, nghiền ngẫm thao lược, tìm mời những người mưu trí, chiêu tập dân lưu tán, hăng hái dấy…    read more 

Hỗ trợ