Loading

[15]-Nhà Hồ (1400-1407)

Đại Ngu

Đại Ngu là quốc hiệu Việt Nam thời nhà Hồ, tồn tại từ năm 1400 đến khi cha con Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương bị bắt năm 1407. Quốc hiệu Đại Việt được đổi thành Đại Ngu vào tháng 3 năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền.. Sau đó vào tháng 4 năm 1407, nhà Hồ bị thất bại trước nhà Minh, và tên Đại Ngu không được dùng làm quốc hiệu từ thời điểm đó. Sau khi nhà Hậu Lê chiến tranh giành lại độc lập, quốc hiệu của Việt Nam đổi lại thành Đại Việt. Chữ “Ngu” trong quốc hiệu “Đại Ngu” của nhà Hồ có nghĩa là “sự yên vui, hòa bình”, không phải chữ “Ngu” mang nghĩa là “ngu ngốc”. “Đại Ngu” có thể hiểu là ước vọng về một sự bình yên rộng lớn trên khắp cõi giang sơn. Có một…    read more 

Nguyễn Mộng Tuân

Danh sĩ cuối đời Hồ, đầu đời Lê, không rõ năm sinh, năm mất, tự Văn Nhược, hiệu Cúc Pha, quê làng Vân Khê, huyện Đông sơn trấn Thanh Hóa (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa). Năm Canh thìn 1400 ông đỗ Thái học sinh cùng khoa với Vũ Mộng Nguyên. Giặc Minh xâm lược, ông lui về ở ẩn. Khi Lê Lợi khởi nghĩa, ông tìm đến Lam Sơn yết kiến tham gia kháng chiến chống ngoại xâm. Đời Lê Thái tông, ông làm Trung thư lệnh, rồi Đô úy, đến đời Nhân tông, làm Tả nạp ngôn, Tri quân dân Bắc đạo, rồi được vinh phong Vĩnh lộc đại phu. Ông nổi tiếng văn chương, có tiết tháo của bậc cao sĩ. Thơ văn còn được ghi chép trong: Quần hiền phú do Hoàng Tụy Phu biên tuyển gồm nhiều bài phú nổi tiếng của các danh sĩ đương…    read more 

Hồ Ngạn Thần

Văn thần đời Hồ và hậu Trần, không rõ năm sinh, năm mất. Năm Ất dậu 1405 (năm Khai Đại 3, đời Hồ Hán Thương) ông đỗ Thái học sinh, làm quan đời nhà Hồ. Đến khi quân Minh sang xâm lược, ông theo vua Trần Trùng Quang kháng chiến. Canh dần 1410, ông cùng Bùi Nột Ngôn vâng mệnh vua Trần đi sứ nhà Minh. Trước kia, đã có Lê Ngân sang Minh cầu phong, bị vua Minh giết. Vì thế, chuyến đi sứ này. Ông có vẻ mất tinh thần. Đến Yên Kinh, nghe vua Minh cật vấn tình hình, ông ta nhất nhất tỏ bày, không khéo giữ ý tứ. Vua Minh bèn phong ông làm Tri phủ, vua Trùng Quang thì làm Bố chánh sứ. Ông ta lấy làm thỏa mãn, nhận chịu tước phong, bái tạ vua Minh. Trở về nước, ông bị Bùi Nột Ngôn…    read more 

Đặng Tất

Thân phụ nghĩa sĩ Đặng Dung đời Hậu Trần, người huyện Thiên Lộc (Can Lộc), tỉnh HàTĩnh. Ông dòng dõi Thám Hoa Đặng Bá Tĩnh. Sau vào khai khẩn và lập nghiệp tại châu Thăng Hoa, tỉnh Quảng Nam. Cuối đời Trần sang đời nhà Hồ, ông vẫn được Hồ Quí Ly trọng dụng, bổ làm Tri phủ Hóa Châu. Đến khi cha con Quí Ly bị Trương Phụ bắt, ông vẫn giữ chức Đại tri châu, cai trị vùng Hóa Châu. Năm Đinh hợi 1407, tháng 10, Giản Định Đế tức vị ở Trường An, thuộc tỉnh Ninh Bình. Trương Phụ chuyển quân vào đánh, Giản Đinh Đế chạy vào Nghệ An, ông nghe tin, dấy quân đánh quan quân nhà Minh ở đấy rồi nghênh tiếp vua Giản Định, và tiến con gái vào cung. Vua Giản Định phong ông làm Quốc Công, cùng nhau lo khôi phục…    read more 

Cù Xương Triều

Danh thần cuối đời Hồ – Hậu Trần, không rõ năm sinh, năm mất. Năm Khai Đại 3 (Ất dậu 1405) đời Hồ Hán Thương, ông đỗ Cử nhân, sung Trị thiên đường hạ sinh. Ông hết lòng coi sóc việc học trong nước, mưu ích lợi cho dân chúng. Kịp khi quân Minh xâm lược, ông ở ẩn giữ khí tiết không đầu phục giặc. Các nghĩa sĩ ở Hóa Châu lần lượt đứng lên dấy quân kháng chiến, ông cũng tham gia.

Bùi Ứng Đấu

Cao sĩ đời hậu Trần, không rõ năm sinh, năm mất, quê huyện Sơn Vi, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc xã Xuân Lũng, huyện Phong Châu, tỉnh Phú Thọ). Sách Lịch triều đăng khoa lục chép là Bùi Ứng Thập, có lẽ lầm chứ Đấu ra chữ Thập chăng? Nhà Hồ, năm Thánh Nguyên I (Canh thìn 1400), ông đỗ Thái học sinh, đồng khoa với Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Võ Mộng Nguyên. Sau khi thi đỗ ra giúp nhà hậu Trần, làm Giám thư khố và từng làm tân khách của thái tử đến khoảng 50 tuổi, ông cáo quan về hưu. Khi quân Minh sang cướp nước, ông hết lòng giúp nhà hậu Trần chống cự. Bấy giờ, tướng giặc là Trương Phụ cho tìm kiếm những nhà ẩn dật ở sơn lâm, những người giỏi văn học, có tài đức, để đưa sang Kim Lăng, ban…    read more 

Nguyễn Đại Năng

Tháng Hai 26, 2021 |

Danh y, nhà châm cứu xuất sắc đời Hồ, không rõ năm sinh, năm mất, quê ở Giáp Sơn, tỉnh Hải Dương. Ông làm thuốc cứu giúp nhân dân, không màng gì lợi lộc, tài đức được nhân dân ca tụng, nhất là khoa châm cứu rất nổi tiếng. Khoảng năm Quí mùi 1403, nhà Hồ xây cất bệnh viện Trung ương phục vụ nhân dân, gọi là Quảng tế thự ông được Hồ Quí Li trọng dụng, giao cho cai quản cơ quan y tế Trung ương với cương vị Quảng tế tự thừa (Giám đốc viện y tế Trung ương ngày nay). Ông cũng giỏi về quân sự, có tài bắn nỏ, nên cũng được nhà Hồ cử kiêm coi việc quân và về sau coi sóc luôn Quân y viện. Ông có soạn sách y học: Châm cứu tiếp hiệu diễn ca ghi lại cách chữa 130…    read more 

Ngô Miễn

Tháng Hai 26, 2021 |

Danh thần nhà Hồ, ông làm đến Hành khiển hữu tham tri chính sự. Năm Đinh hợi 1407, quân Minh xâm lược, nhà Hồ điêu đứng, nhân dân thảm khổ, ông đau đớn gieo mình xuống sông tử tiết. Vợ là Nguyễn thị cũng tự tử theo chồng. Trong Đại Việt sử kí toàn thư, có ghi truyện Ngô Miễn này, Ngô Sĩ Liên thêm lời bình: “Vợ Ngô Miễn là Nguyễn thị không những chỉ chết vì tiết nghĩa, lời nói cũng đủ làm bài học cho đời”. Sử ghi lời nói của Nguyễn thị như sau: “Chồng ta thờ vua, một đời ăn lộc, từ chỗ Trung quan được lên tham dự Chính phủ, nay vì nghĩa mà chết, thế là chết đáng chỗ, còn oán hận gì. Nghĩa vợ chồng, ơn vua tôi, ta không nỡ phụ bạc. Đành chết theo nhau vậy”. Trong Nam Ông mộng…    read more 

Lý Tử Cấu

Tháng Hai 26, 2021 |

Danh sĩ cuối đời Hồ, hiệu Hạ Trai, không rõ năm sinh, năm mất quê ở Hồng Châu, tỉnh Hải Dương. Ông nổi tiếng thơ văn, được sĩ phu trọng vọng. Nhà Hồ trọng dụng ông, nhưng ông cố từ. Khi quân Minh xâm lược, chọn nguời có học ra làm quan, ông lánh đi, không hợp tác. Đến đầu đời Lê, Nguyễn Mộng Tuân tiến cử ông với nhà vua, ông cũng từ chối. Phong cách trong sạch, tiết tháo cao thượng của ông được người thời bấy giờ trọng vọng, nể vì. Ông cùng Bùi Ứng Đấu, Vũ Mộng Nguyên kết giao thân thiết. Trong Việt sử tiêu án và Kiến văn tiểu lục Ngô Thì Sĩ và Lê Quí Đôn đều có lời tán dương tiết tháo và thơ văn ông và Bùi Ứng Đấu.

Lê Cảnh Tuân

Tháng Hai 26, 2021 |

Danh sĩ, tác giả đời nhà Hồ (1400- 1407) tự là Tử Mưu, quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An (huyện Bình Giang) tỉnh Hải Dương cũ, nay thuộc tỉnh Hải Dương; nguyên trước quán ở làng Lão Lạt, tỉnh Thanh Hóa. Không rõ năm sinh, năm mất. Ông đỗ Thái học sinh đời Hồ Quí Ly (1400-1402). Nhà Hồ mất, ông có làm Vạn ngôn thư khuyên Bùi Bá Kì (lúc ấy ra làm quan với nhà Minh) xin với nhà Minh, lập con cháu nhà Trần. Quân Minh biết việc này, bắt ông đưa về Yên Kinh. Vua Minh hỏi: “Người khuyên Bá Kì âm mưu làm trái phép?” ông nói: “Người nước Nam, chỉ ở nước Nam, chớ không bao giờ cắn chủ, còn hỏi làm gì?” Vua Minh tức giận, sai giam ông vào ngục sáu năm. Ông bị bệnh và chết trong ngục ở Yên…    read more 

Hồ Hán Thương

Tháng Hai 26, 2021 |

Vua, con thứ của Hồ Quí Ly, em Hồ Nguyên Trừng, không rõ năm sinh, năm mất. Canh thìn 1400, tháng 2, Hồ Quí Ly lật đổ Trần Thiếu Đế, tự lập làm vua. Quí Ly muốn lập Hán Thương làm Thái tử nhưng chưa quyết định hẳn, bèn ra câu đối để xem chí khí của hai người con. Quí Ly trỏ vào nghiên mực, đọc: “Thử nhất quyền kì thạch, hữu thời vi vân vi vũ dĩ nhuận sinh dân” (Phiến đá kì lạ này, có lúc làm mây làm mưa để làm tươi mát cho sinh dân). Con cả là Hồ Nguyên Trừng biết ý cha, đối lại với dụng ý khuyên hãy lập Hán Thương, còn mình thì chỉ đáng là người giúp việc. Nguyên Trừng đọc: “Giá tam thốn tiểu tùng, tha nhật tác đống tác lương kham phù xã tắc” (Ba tấc gỗ thông…    read more 

Đỗ Mãn

Tháng Hai 26, 2021 |

Võ tướng nhà Hồ, giỏi về thủy chiến, được phong làm Thủy quân đô tướng. Liên tiếp trong hai năm Nhâm ngọ 1402 và Quí mùi 1403, ông đã cùng với Phạm Nguyên Khôi đem 20 vạn quân thủy bộ đi đánh Chiêm Thành, vây thành Đồ Bàn hơn một tháng mà không lấy được, hết cả lương thực phải rút quân về! Đến khi chống nhau với quân Minh, ông cũng từng xông pha trận mạc, cùng với các tướng Hồ Đỗ, Hồ Hạ lập nhiều chiến công. Cuối cùng, thế yếu không chống nổi, ông tử tiết khi nhà Hồ sụp đổ, cha con Hồ Quí Ly, Hồ Hán Thương rơi vào tay giặc.

Bùi Mộng Hoa

Xử sĩ cuối đời Trần, sách Nhân vật chí vựng biên chép là Bùi Mộng Ba, không rõ năm sinh, năm mất. Khi chúa Chiêm Thành Chế Bổng Nga đem quân xâm lược nước ta, quan trấn Quảng Oai Lê Bật ôn ra chống cự bị chết trận, Trần Nghệ tông quyết định chạy ra Đông Ngạn để tránh giặc, Bùi Mộng Hoa bèn để cả triều phục lội xuống nước níu thuyền ngự lại, xin nhà vua đừng bỏ đi, hãy cứ bình tĩnh ở lại liệu cách cứu nước, nhưng vua không nghe. Mùa hạ đại hạn, Thượng hoàng Trần Nghệ tông xuống chiếu cầu có người nói thẳng việc triều chính thuở ấy. Ông dâng thư có câu: “Thần nghe các trẻ con hát rằng: Thâm tai Lê sư, tất nhiên thái sư Lê Quí Ly có dị chí”. Thượng hoàng đem lời ấy bảo cho Quí…    read more 

Nguyễn Phi Khanh

Danh sĩ, cuối đời Trần Hồ, hiệu Nhị Khê. Vốn tên Nguyễn Ứng Long, sau đổi là Phi Khanh, quê xã Chi Ngại, huyện Phương Sơn, lộ Lạng Giang (thuộc tỉnh Hải Dương), sau dời về xã Ngọc ổi, huyện Thượng Phúc, châu Thượng Phúc, lộ Đông Đô (thuộc tỉnh Hà Đông). Ông nổi tiếng văn thơ từ lúc trẻ được quan Tư đồ Trần Nguyên Đán đem về nuôi dưỡng và dạy học. Ông phải lòng người con gái của quan Tư đồ là Trần Thị Thái. Khi Trần Thị Thái có thai, ông sợ tội bỏ trốn, nhưng Trần Nguyên Đán độ lượng bao dung, cho tìm ông về và gả con cho. Nhờ đó ông yên bề ăn học. Đến Giáp dần 1374 ra thi. đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) mới 19 tuổi. Có tài nhưng ông không được Trần Nghệ tông thu dụng, nên đành…    read more 

Hoàng Hối Khanh

Văn thần nhà Hồ, quê làng Bái Trại, huyện An Định. Năm Giáp tí 1384, đời Trần phế đế, ông đỗ Thái học sinh, làm An phủ sứ. Sau theo Hồ Quí Ly, được Quí Ly cho làm Chính hình viện đại phu. Rồi khi Hồ Qúi Ly cướp quyền nhà Trần, Hoàng Hối Khanh được phong làm Hành khiển. Khi quân Minh sang xâm lược, Hoàng Hối Khanh bị Trương Phụ bắt giải về hành dinh. Khi đến cửa bể Đan nhai, ông tự tử… Phụ bêu đầu ông ở chợ Đông Đô.

Hồ Quí Ly

Vua, tác giả, nhà cải cách, người khai sáng nhà Hồ, có quyền mưu, cơ trí, một chính trị gia lão luyện, đa tài đời Trần. Ông tự là Li Nguyên, vốn dòng dõi Hồ Hưng Dật, ngụ ở làng Bào Đột, huyện Quỳnh Lưu. Sau ông tổ bốn đời là Hồ Liêm dời ra ở làng Đại Lại, tinh Thanh Hóa, làm con nuôi nhà Lê Huấn, mới đổi là họ Lê. Hồ Quí Ly có hai người cô đều là vợ vua Trần Minh tông, một người sinh ra Nghệ tông, một người sinh ra Duệ tông. Vì thế đến đời Trần Nghệ tông, ông được tin dùng, làm Khu mật đại sứ (1371), rồi làm Tiểu tư không (1377), thăng dần đến Thống chế đô hải tây, tước Trung Tuyên Hầu (1380). Nhà vua lại gả Huy Ninh công chúa cho ông. Năm Đinh dậu 1387, thăng…    read more 

Hồ Nguyên Trừng

Thái tử, tác giả, con cả Hồ Quí Ly, anh Hồ Hán Thương, không rõ năm sinh, năm mất, tự là Mạnh Nguyên, hiệu Nam Ông. Chính ông có ý nhường ngôi cho em (Hồ Hán Thương), nhưng anh em vẫn có điều bất hòa. Hồ Quí Ly từng khuyên anh em ông: “Thiên giả phú, địa giả tải, Huynh đệ nhị nhân như hà bất tương ái? Ô hô! ai tai hề ca khảng khái”. Dịch: Trời thì che, đất thì chở,Anh em hai người sao chẳng niềm nở.Ô hô! Xót thay chừ lời ca trăn trở! (Vì biết chuyện và đem lời răn trên đây truyền ra ngoài cho thiên hạ biết, viên cận thần Nguyễn Ông Kiều bị Quí Ly giết). Về trước khi phụ thân ông chưa lật đổ nhà Trẫn, dưới triều Trần Thuận đế, ông phụ trách Thượng Lân tự – một quan thự…    read more 

Đoàn Xuân Lôi

Danh sĩ cuối đời Trần – Hồ, không rõ năm sinh, năm mất, quê làng Trâu Lỗ, có sách chép Hòa Lỗ, huyện Tân Phúc (sau đổi là Thiên Phúc, rồi đổi là Hiệp Hòa, nay thuộc Đa Phúc, tỉnh Vĩnh Phú). Năm Giáp tí 1384, ông đỗ Thái học sinh, dạy ở Quốc tử giám, nổi tiếng văn thơ. Tính ông khảng khái không kiêng dè ai cả. Nhân đọc sách Minh đạo của Hồ Quí Ly, ông không đồng ý ở nhiều đoạn, bèn viết một bài bình luận gởi thẳng cho Quí Ly, bài bác gay gắt. Hồ Quí Ly bị chạm tự ái, nổi giận hạ lệnh đày ông đi một châu khác. Đồng thời, trạng nguyên Đào Sư Tích là người hay lui tới đọc sách với ông cũng bị giáng chức, vì Quí Ly cho là cùng một phái với ông. Sau, được phục…    read more 

Bùi Bá Kì

Võ tướng đời Trần Thuận tông, quê ở Hạ Hồng (Ninh Giang) huyện Thanh Miền, tỉnh Hải Dương. Ông xuất thân là tì tướng của Võ tiết hầu Trần Khát Chân. Khi Hồ Quí Ly giết hại Trần Khát Chân và tông thất nhà Trần, ông sang Trung Quốc dâng biểu cáo nạn với vua Minh. Lời biểu đại lược như sau: “… Cha ông tôi đều làm chính đại phu, chết vì việc nước. Mẹ tôi cũng có họ hàng gần với nhà Trần cho nên thuở nhỏ tôi được vào hầu quí vương, quan đến ngũ phẩm, sau theo làm tì tướng với Võ tiết hầu Trần Khát Chân. Cuối năm Hồng Võ, Khát Chân đi dẹp giặc ở Đông Hải mà rồi cha con tặc thần Lê Quí Ly giết chúa tiếm ngôi, tàn sát trung lương, kẻ bị diệt, tộc kể có trăm mười mấy người…    read more 

[NBLSVN] Nhà Hồ (1400-1407)

Nhà Hồ (1400-1407) Quốc hiệu Đại Ngu, kinh đô Tây Đô (Thanh Hóa), 7 năm, 2 đời vua 1. Hồ Quý Ly (Thánh Nguyên, 1400-1401) Hồ Quý Ly tự là Thánh Nguyên, cháu 16 đời của Trạng nguyên Hồ Hưng Dật, vốn gốc thuộc tộc Việt ở Chiết Giang, phương nam Trung Quốc, đời Hậu Hán (thời Ngũ Quý) sang làm Thái thú Diễn Châu, sau định cư ở hương Bào Đột (Nghĩa Đàn, Nghệ An). Hồ Quý Ly là nhân vật thông minh lỗi lạc, ông đã đề ra nhiều cải cách táo bạo. Ông ra sách Minh Đạo để phê phán hệ tư tưởng Tống Nho, phục vụ cho những cải cách mới như hạn điền, hạn nô, sa thải tăng lữ để hạn chế phong kiến quý tộc, đồng thời tăng thêm lực lượng lao động xã hội góp phần giải phóng sức sản xuất, sức lao…    read more 

Hỗ trợ