Loading

[19]-Nam – Bắc Triều (1527-1592)

Lê Đản

Danh sĩ đời Lê mạt, không rõ năm sinh, năm mất, quê làng Thịnh Cuông, huyện Chân Định, trấn Sơn Nam, sau là Trực Ninh, tỉnh Nam Định (nay vẫn thuộc Nam Định). Khi nhà Nguyễn thành lập, khoảng năm 1807, ông làm Đốc trấn Lạng Sơn, và được cử làm Giám thị trường thi Hiến Nam (trường thi này đặt ở bãi sông xã Hoa Dương, làng Kim Động, tỉnh Hưng Yên nay thuộc Hải Dương). Ông có soạn quyển Nam Hà tiệp lục. Sách chép lược sử các chúa Nguyễn ở miền Nam từ gốc tích đến năm Gia Long thứ 3 (1804).

Võ Cán

Danh sĩ đời Lê Hiến tông, tự Tùng Hiên, quê xã Mộ Trạch, huyện Đường An, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Con danh sĩ Võ Quỳnh. Năm Nhâm tuất 1502 ông đỗ tiến sĩ, làm quan đến Thượng thư bộ Lễ, kiêm Chưởng quản các việc ở viện Hàn lâm, tước Lễ Độ Bá. Ông từng đi sứ Trung Quốc trong năm Canh ngọ 1510. Về sau, ông lại làm quan nhà Mạc. Ngoài ra ông còn là một nhà văn có các sách: – Tùng Hiên thi văn tập (gồm có những bài kí, thuyết, linh, luận, truyện, biện… bàn về sử, địa, sinh hoạt xã hội). – Tứ lục bị lãm (sưu tập cùng các bài văn tứ lục). Khi làm quan nhà Mạc, ông thường xướng họa thơ ca với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Lúc đi hộ giá vua Mạc tiến quân ở châu Lục…    read more 

Mạc Quyết

Thân vương nhà Mạc. Em Mạc Đăng Dung, không rõ năm sinh, năm mất. Ông cùng với anh là Đăng Dung và Đốc đều là bề tôi nhà Lê, đời Lê Chiêu tông. Đốc được phong tước Trào Quận Công; ông đưọc phong Đông Sơn Hầu, rồi thăng Đông Quận Công; còn Đăng Dung tước Vũ Xuyên Bá, thăng dần đến An Hưng vƯƠNG, bèn sinh lòng cướp quyền mưu đồ dựng nghiệp lớn. Ông cũng tán thành ý đồ của anh, ba anh em ông ngầm kết vây cánh mong lật đổ nhà Lê. Năm Đinh hợi 1527 Đăng Dung cướp quyền vua thành công, có ông làm hậu thuẫn đắc lực và em rể Đăng Dung là Võ Hộ (sau đổi tên là Mạc Bang Hộ) ủng hộ tận tâm. Nhà Mạc thành lập, Đăng Dung phong ông làm Tín vương, Đốc làm Từ vương, Võ Hộ tức Mạc…    read more 

Lê Ý

Ngoại thích nhà Lê, không rõ năm sinh, năm mất. Khi họ Mạc tiếm ngôi được 4 năm (Canh ngọ 1330), ông nổi quân ở Đa Châu, tự lập làm vua, đặt hiệu năm là Quang Thuận. Chỉ trong mươi ngày, các quận huyện đều hưởng ứng, số quân có đến mấy vạn người, thanh thế rất lừng lẫy. Mạc Đăng Dung mấy lần đem quân đến đánh đều bị ông đánh tan. Rồi tiếp đó tiến đóng ở thành Tây Đô, lập hành dinh tại xã Nghĩa Lộ. Ít lâu lại lui quân về đóng ở Đa Châu như cũ. Dần dần đắc ý sinh kiêu, không phòng bị, ông bị các tướng nhà Mạc thừa cơ đánh úp giết ông chết tại trận. Tự Đức vịnh sử về Lê Ý có câu: “Tiến thoái Đa Châu do khí tiểu, Thiên thu nhưng thượng thử trung can”. Nghĩa: Lên…    read more 

Lê Tuấn Kiệt

Văn thần đời Lê Cung đế, không rõ năm sinh, năm mất, quê làng Tân Minh, trấn Thanh Hóa (nay là tỉnh Thanh Hóa). Ông làm đến Thượng tể, tính khảng khái có khí tiết được sĩ phu trọng vọng. Năm Đinh hợi 1527, Mạc Đăng Dung đảo chính, ông không khuất phục, lui về Thanh Hóa tập hợp quân dân, lấy danh diệt Mạc phù Lê. Đăng Dung sai người đem vàng bạc đến khuyên dỗ về hàng sẽ phong cho tước vương. Ông cương quyết không qui thuận, chém sứ Mạc, rồi dấy binh chống cự. Ít lâu ông bị tướng nhà Mạc đánh bại giết chết. Sau, nhà Lê Trung hưng khen tặng ông là bậc tiết nghĩa, truy phong ông làm Phúc thần thượng đẳng. Vua Tự Đức đề vịnh: “Ti từ hậu tệ mạt như hà, Kim thạch thanh thanh vĩnh bất ma. Đường tí cự…    read more 

Đỗ Oánh

Văn thần đời Lê Uy Mục, không rõ năm sinh, năm mất, quê làng Ngoại Lãng, huyện Thư Trì, tỉnh Nam Định. Năm Mậu thìn 1508, ông đỗ Tam giáp tiến sĩ. Ông nổi tiếng văn học, tính khảng khái cương trực, có tiết nghĩa, làm đến Thượng thư bộ Lễ. Đinh hợi 1527, Mạc Đăng Dung tiếm ngôi, ông về quê ở ẩn, không ra làm quan với nhà Mạc. Khí tiết được nhân dân đương thời mến phục. Trong cơn loạn lạc, ông vẫn vì dân mà cứu loạn, bỏ mình trong khói lửa chiến tranh. Ông được phong Phúc thần. Có đền thờ ở quê ông, tục gọi đền thờ Đỗ Thượng thư.

[NBLSVN] Bắc Triều – Nam Triều (1527-1592)

Bắc Triều – Nam Triều (1527-1592) Nhà Mạc (1527-1592) Quốc hiệu Đại Việt, kinh đô Đông Đô, 65 năm, 5 đời vua 1. Mạc Đăng Dung (1527-1529) Mạc Đăng Dung quê ở làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương (Hải Dương) là cháu bảy đời của trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi làm quan đến chức Nhập nội hành khiển (Tể tướng) thời Trần, bố là Mạc Hịch, mẹ là Đặng Thị Hiến. Ông bà Mạc Hịch – Đặng Thị Hiến sinh được 3 người con trai là: Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Đốc và Mạc Đăng Quyết. Mạc Đăng Dung sinh ngày 23 tháng 11 năm Quý Mão – 1483. Thời trẻ, Mạc Đăng Dung có sức khoẻ phi thường, tướng mạo khôi ngô. Ông xuất thân từ một thanh niên nghèo, làm nghề đánh cá, trong một dịp đi thi võ ở kinh đô đã trúng Đô lực sĩ và…    read more 

Hỗ trợ