Loading

[19]-Nam – Bắc Triều (1527-1592)

Mạc Mậu Hợp

Vua đời thứ năm nhà Mạc, con trưởng Mạc Phúc Nguyên. Năm Giáp tí 1564 tháng 2 âm lịch, ông được đưa lên nối ngôi cha. mới 2 tuổi, có hai ông chú Khiêm vương Kính Điển và Ứng vương Đôn Nhượng phụ tá. Chính nhờ hai ông chú này kiên cường chiến đấu trên các chiến trường với quân nhà Lê nên ông mới ở yên được trên ngôi cho tới lúc trưởng thành. Năm Canh thìn 1580, tháng 10 âm lịch Kính Điển mất, Đôn Nhượng thay thống lãnh binh quyền, lúc này ông đã được 17 tuổi biết cùng ông chú toan lo mọi việc. Nhưng tình thế vẫn gay go, lắm lúc bị quân Lê đánh phá dữ dội, ông phải bỏ kinh thành mà lẩn tránh vất vả nhiều nơi. Đến năm Nhâm thìn 1592 quân Lê bắt đầu tổng tấn công, quân Mạc thua…    read more 

Mạc Lập Bạo

Võ tướng nhà Mạc, ông vốn họ Nguyễn, cháu nội đại thần Nguyễn Kính, con danh tướng Nguyễn Liễn. Cha ông trung thành với nhà Mạc, nên cho theo họ Mạc, đổi tên là Mạc Ngọc Liễn, nên ông cũng họ Mạc. Ông có nhiều công trận, được Mạc Mậu Hợp phong tước Lập Quận Công, trấn giữ châu Bố Chính, rồi sau ra trấn xứ Hải Dương. Khi làm đô đốc trấn thủ hai xứ Thuận Quảng, ông đóng doanh trại ở miền huyện Khang Lộc (trước có tên là Kiến Lộc, đời Nguyễn đổi là Phong Lộc, nay là huyện Phong Điền thuộc tỉnh Thừa Thiên). Năm Nhâm thân 1572 ông đem thủy quân gồm hơn 70 chiến thuyền vào đánh chúa Nguyễn Hoàng đang đặt căn cứ qui mô lớn ở đấy. Nguyễn Hoàng (tức chúa Tiên) dùng mỹ nhân kế đưa nàng hầu là Ngô Thị…    read more 

Mạc Kính Khoan

Vua áp cuối đời nhà Mạc, cháu gọi Kính Điển bằng ông, Kính Cung bằng chú. Ông được phong là Khánh vương, khi Mậu Hợp và Kính Chỉ bỏ trốn, ông riêng chiếm một vùng Đại Từ, Vũ Nhai làm căn bản. Trong khi ấy các thân vương nhà Mạc như Trang vương Kính Chương, Uy vương Kính Dụng. Đôn hậu công Kính Cung đều biệt lập xưng vua, cố sức dựng lại nhà Mạc đã xiêu đổ. Kính Khoan ẩn náu chốn rừng núi, vẫn nuôi chí phục hận, thỉnh thoảng cũng đem quân đánh phá các nơi đóng quân trọng yếu của nhà Lê. Đến năm Quí hợi 1623 ông chính thức lên ngôi ở Cao Bằng, đặt hiệu năm là Long Thái, lập cung điện bằng tranh lá ở xã Vu Toàn. Vua Lê chúa Trịnh nhiều phen cử binh tướng đi đánh dẹp dư đảng nhà…    read more 

Mạc Kính Điển

Thân vương nhà Mạc, con trai Đăng Doanh, em Phúc Hải, anh Đôn Nhượng. Ông tính linh mẫn, dũng cảm có thừa, được phong tước Khiêm vương. Khi Phạm Tử Nghi tôn phù Mạc Chính Trung đối lập với Mạc Phúc Nguyên, ông ra sức giúp Phúc Nguyên giữ vững ngôi vua, dẹp tan nhóm phản kháng của Phạm Tử Nghi. Nhà Mạc phần lớn nhờ có ông và em ông là Ứng vương Mạc Đôn Nhượng hết sức chống đỡ cảc thế lực đối kháng và đứng vững trước những cuộc tấn công của binh tướng nhà Lê. Ông giữ chức Tổng soái Trung doanh, cầm quyền chính trị khắp trong triều ngoài quận. Đời Mạc Mậu Hợp, tấn phong ông là Kinh Đại vương. Ông cùng Đôn Nhượng cố sức đấu tranh quyết liệt với nhà Lê, chống đỡ cho nhà Mạc qua các cơn nguy ngập. Năm…    read more 

Mạc Kính Cung

Vua đời thứ bảy nhà Mạc, con thứ của Khiêm vương Mạc Kính Điển, em vua Mạc Kính Chỉ. Lúc đầu ông được vua Mạc Mậu Hợp phong tước là Đôn Hậu vương, đến khi Mậu Hợp bị bắt giết, ông được Đào Quốc Công Mạc Ngọc Liễn đưa đi trốn lánh, rồi lập lên làm vua, hùng cứ vùng Kim Thành trong khoảng tháng 3 âm lịch Nhâm thìn 1592. Đang khi ấy anh ông là Mạc Kính Chỉ cũng tự lập làm vua ở vùng Nam Giản, Chí Linh, đồng thời có nhiều nhóm khác dấy lên bạo động, gây biến loạn liên miên. Mạc Kính Chỉ mất sớm (Quí tị 1593), ông càng được đông đảo tôn thất và tướng sĩ ủng hộ. Bấy giờ, lại có Trang vương Mạc Kính Chương, Uy vương Mạc Kính Dụng cũng dọc ngang một cõi Cao Bằng xưng vua, nhưng…    read more 

Mạc Kính Chỉ

Vua đời thứ sáu nhà Mạc, con trưởng của Khiêm vương Mạc Kính Điển. Ông được phong là Hùng Lễ vương đời Mạc Hậu Hợp, vì tư thông với nguời thiếp của cha nên bị giáng làm thứ dân, sau đó lại được khôi phục phong là Dường An vương. Khi Mạc Mậu Hợp trốn chạy ông cũng lẩn tránh ở Đông Triều, rồi thu thập tàn quân chiếm cứ vùng Thanh Lâm, tự lập làm vua ở Nam Giản, thuộc Chí Linh trong năm Nhâm thìn 1592. Nhưng chỉ được non một năm, đến tháng giêng âm lịch Quí tị 1593, bị các tướng nhà Lê đánh phá dữ dội, ông đem gia quyến trốn vào rừng núi. Các tôn thất như An Sơn vương Mạc Kính Thành, Hoằng Lượng công Mạc Lý Hựu hơn 10 ngưởi bị bắt giết. Đến ngày 14-1 âm lịch năm ấy, ông cùng…    read more 

Mạc Đôn Nhượng

Danh tướng nhà Mạc. Con thứ bảy của Mạc Đăng Doanh, em Mạc Phúc Hải và Khiêm vương Mạc Kính Điển. Ông được phong tước ứng vương, sau khi cha mất, anh là Phúc Hải nối ngôi, ông vẫn là một tướng lĩnh ra sức đánh dẹp nhóm phản kháng do Phạm Tử Nghi cầm đầu, ủng hộ Mạc Chính Trung tranh ngôi vua và quyết liệt chống nhau với nhà Lê. Nhất là sau khi Phúc Hải mất. Phúc Nguyên lên cầm quyền, ông cùng với anh là Khiêm vương Mạc Kính Điển trên cương vị ông chú vua, phụ chính đắc lực. Có thể nói, trong dòng họ Mạc, nhờ ông và Kính Điển mà nhà Mạc còn đứng vững được khá lâu trước những cơn bao táp do nhà Lê ập xuống. Có lúc ông quá mệt nhọc, đâm ra phóng túng hưởng lạc, bỏ mặc việc…    read more 

Mạc Đăng Dung

Danh thần nhà Lê, vua đầu nhà Mạc, sau cướp quyền vua dựng ra nhà Mạc. Ông là con của Mạc Hịch và Đặng Thị Hiếu, quê làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương, ngụ ở làng Cao Dôi, huyện Bình Hà, tỉnh Hải Dương. Ông vốn dòng dõi Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đời Trần. Thuở trẻ ông theo học với người thầy họ Lê, được thầy thương mến gả con cho. Nhà nghèo, nhưng ông có sức khỏe, có chí lớn, thường đi đánh vật thi lấy giải về sống qua ngày và làm nghề đánh cá mưu sinh. Năm Bính tí 1516, đời Lê Chiêu tông, ông thi võ đỗ đệ nhất Đô lực sĩ, làm quan thăng dần đến Chỉ huy sứ, coi sóc các đạo quân, và được làm Phò mã, tước Vũ Xuyên Bá, kết duyên cùng công chúa Lê Thị Ngọc Minh. Chẳng bao…    read more 

Mạc Đăng Doanh

Vua thứ hai nhà Mạc, con trưởng Mạc Đăng Dung, không rõ năm sinh. Khi còn phục vụ nhà Lê, ông được Lê Chiêu tông phong tước Dục Mĩ Hầu, giữ điện Kim Quang. Khi Đăng Dung cướp chính quyền (Đinh hợi 1527) ông được lập làm thái tử, đến năm Canh dần 1530 (ngày 1-1 âm lịch) ông lên ngôi vua, tôn Đăng Dung làm Thái thượng hoàng, tôn bà nội là Đặng Thị Hiếu làm Thái hoàng thái hậu. Cha con vẫn phải khó nhọc đương đầu tìmg đợt tấn công của nhà Lê Trung hưng, để giữ vững ngai vàng. Lại nữa, trong năm Giáp ngọ 1534, vua Minh sai Hàm Ninh Hầu Cửu Loan và Thượng thư bộ Binh là Mao Bá ôn đưa quân đến biên giới tuyên bố đánh họ Mạc. Cha con ông khiếp sợ phải cúi mình nhân nhượng với vua quan…    read more 

Mạc Chính Trung

Thế tử con trai thứ hai của Mạc Đăng Dung, em Mạc Đăng Doanh, được phong tước Hoằng vương, không rõ năm sinh, năm mất. Năm Canh dần 1530, anh ông là Đăng Doanh lên ngôi vua, ông nhận lệnh giữ binh quyền ở Tây Đô, tổ chức quân đội phòng giữ các nơi hiểm yếu ở kinh đô. Năm Canh tí 1540 Đăng Doanh mất, con là Mạc Phúc Hải nối ngôi, ông vẫn hết lòng giúp cháu chống nhau với nhà Lê và chúa Nguyễn. Đến năm Quí mão 1543, Lê Trang tông thân chinh đánh lấy Tây Đô, Phúc Hải nao núng, ông thất trận lúc đầu nhưng về sau vẫn giữ được bờ cõi cho cháu là Mạc Phúc Hải. Năm Bính ngọ 1546 Phúc Hải mất, con là Phúc Nguyên hãy còn nhỏ, Tú Dương Hầu Phạm Tử Nghi đưa ý kiến ủng hộ ông:…    read more 

Lương Hữu Khánh

Danh sĩ đời Lê Anh tông, con cụ Bảng nhãn Lương Đắc Bằng. Không rõ năm sinh, năm mất, quê làng Hội Trào, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Ông nổi tiếng thông minh từ thuở bé. Vâng lời cha, ông theo học với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, nguyên là học trò của cha ông khi trước nên cũng giỏi văn học và lí số. Năm Mậu tuất 1538, đời nhà Mạc, ông đỗ thứ hai thi Hội nhưng lại không vào thi Đình, vì được tin nhà Lê đang chấn chỉnh lại ở Thanh Hóa. Ông lén vào Thanh, được Trịnh Kiểm tiếp đón ân cần, đưa vào ra mắt vua Lê. Từ ấy ông dốc lòng phò Lê chống Mạc, hiến kế, công lao rất dày, được vua Lê, chúa Trịnh đều trọng đãi. Sau làm đến Thượng thư bộ Binh, tước Đạt Quận Công, nghiễm nhiên là…    read more 

Lê Vô Cương

Văn thần đời Lê Tương Dực, không rõ năm sinh, năm mất, quê làng Thiên Biếu, huyện An Lăng, tỉnh Sơn Tây (nay là tỉnh Hà Tây). Năm Tân mùi 1511 ông đỗ đồng tiến sĩ làm đến Tả thị lang bộ Lễ. Năm Đinh hợi 1527, Mạc Đăng Dung đảo chính, ông theo Lê Chiêu Tông về Thanh hóa dấy binh chống cự, chết vì nạn nước. Lúc sắp chết có câu: “Quân hành thần tùng, tùng tắc khả, Chúa nhục thần tử, tử hà ưu!” Nghĩa: Vua đi bề tôi theo, theo là phải, Chúa nhục bề tôi chết, chết lo gì! Khi nhà Lê Trung hưng, phong thưởng kẻ có công, ông được truy phong Phúc thần hạng trung và cho lập đền thờ tại quê nhà. Em ông là Lê Vô Địch, đỗ đồng tiến sĩ năm Mậu dần 1518, làm quan đến chức Hộ khoa Cấp…    read more 

Lê Quang Bí

Cũng gọi là Lê Quang Bôn (vì chữ Bí cũng đọc là Bôn, nên có sách chép là Lê Quang Bôn), Văn thần nhà Mạc, tự Thuần Phu, hiệu Hối Trai. Dòng dõi Lê Cảnh Tuân, con Lê Nại, cháu Lê Đỉnh, cháu ngoại Võ Quỳnh, quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương (nay vẫn thuộc tỉnh Hải Dương). Năm Bính tuất 1526 ông đỗ nhị giáp tiến sĩ (hoàng giáp) 22 tuổi, đời Lê Cung Hoàng. Nhưng năm sau (1527), Mạc Đăng Dung đảo chính, ông thành bề tôi nhà Mạc, làm Tả thị lang bộ Hộ. Năm Mậu thân 1548, ông đi sứ nhà Minh, bị vua Minh giữ lại không cho về. Suốt 18 năm bị đày ở Trung Quốc, ông vẫn giữ tiết tháo, không quị lụy khiến đám quan lại nhà Minh phải cảm phục tài đức. Vì thế ông được về…    read more 

Lê Duy Đàm

Vua thứ tư nhà Hậu Lê thời Trung hưng, hoặc cũng gọi thời Nam Bắc triều (vì có nhà Mạc đối lập), miếu hiệu Thế tông Nghị hoàng đế. Con thứ năm Lê Anh tông. Ông được đưa lên ngôi hồi 6 tuổi, vào tháng giêng năm Quí dậu 1573; nhưng quyền bính thật sự ở trong tay Trịnh Tùng. Kỉ hợi 1599, ngày 24-8 ông băng, mới 32 tuổi. Táng tại Hoa Nhạc lăng ở Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa. Con thứ của ông là Duy Tân lên nối, tức Kính tông. Ông ở ngôi 27 năm, đổi hiệu năm 2 lân. – Gia Thái 5 năm. – Quang Hưng 22 năm.

Lê Duy Huyên

Vua nhà Hậu Lê, miếu hiệu Trung tông Võ hoàng đế, con trường Lê Trang tông. Năm Mậu thân 1548, ngày 29-1 ông lên ngôi, mới 13 tuổi. Năm sau mới bắt đầu đặt hiệu năm. Đến năm Bính thìn 1556, ngày 24 tháng giêng ông mất, mới 21 tuổi. Không con, táng tại Diêm lăng, thuộc Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ở ngôi 8 năm, hiệu là Thuận Bình, Kỉ dậu 1549 – Bính thìn 1556. Sau đó, Trịnh Tùng tìm được Lê Duy Bang đưa về lên ngôi, tức Anh tông.

Lê Bá Ly

Võ tướng nhà Mạc, sau theo Lê Trang tông, quê huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông xuất thân là Hiệu úy, dưới quyền chỉ huy của Mạc Đặng Dung. Khi Đặng Dung đảo chính, dựng nhà Mạc, ông được phong làm Thái tể. Sau bị tôi nịnh của nhà Mạc là Phạm Quỳnh gièm pha, ông bèn đem quân bản bộ chống lại nhà Mạc. Sau đó đem cả hai đạo quân Sơn Nam và Sơn Tây tất cả hơn ba nghìn người thẳng vào Thanh Hóa qui thuận nhà Lê, đón Lê Trang tông tới hành dinh Vạn Lại, mưu tính cơ hội khôi phục. Lê Trang tông tin dùng ông, trao cho chức Bình chương quân quốc trọng sự. Thượng tể, tước Diễn Quận Công. Ông nhân đó làm bài hịch chiêu dụ các quan văn võ dưới quyền chỉ huy của họ Mạc ở Bắc đạo,…    read more 

Lê Duy Bang

Vua đời thứ 3 nhà Hậu Lê thời Trung hưng (hoặc cũng gọi thời Nam Bắc triều, vì có nhà Mạc đối lập) miếu hiệu Anh tông Tuấn hoàng đế. Ông là cháu ba đời của người anh Lê Thái tổ là Lê Trừ. Sau khi Lê Trung tông (Duy Huyên mất), Trịnh Kiểm tìm được ông ở làng Bố Vệ, huyện Đông Sơn, rước về lập lên làm vua. Nguyên vua Trung tông mất, không con, Trịnh Kiểm toan thừa thế tự xưng làm vua, nhưng còn ngần ngại, bèn lén cho người đến Hải Dương hỏi ý kiến Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trạng Trinh không đáp, mà chỉ gọi người nhà dặn bảo: “Năm nay mất mùa, thóc giống không tốt, chúng mày nên tìm giống cũ mà gieo mạ”. Nói xong, Trạng Trình lại ung dung đi lễ chùa, rồi bảo các chú tiểu: “Giữ chùa…    read more 

Lại Thế Khanh

Võ tuớng đời Lê Anh tông, quê huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay thuộc tỉnh Thanh Hóa). Khoảng năm Chính Trị 1558-1571, ông cùng Võ Sư Thước đem binh chia trấn các cửa biển, khiến thủy quân nhà Mạc và bọn cướp biến đều sợ oai, ông xông pha trận mạc hàng trăm phen. Ít lâu được lệnh rút quân về đóng giữ phủ An Trường. Được phong tước An Quận Công chức Thái phó vào năm Tân mùi 1571. Năm Đinh dậu 1597 ông mất, được truy tặng là Khiêm Quốc Công.

Hoàng Sĩ Khải

Danh thần nhà Mạc, hiệu Lãn Trai, quê xã Lai Xá, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, sinh khoảng năm 1515-1520, không rõ năm mất. Năm Giáp thìn 1544, ông đỗ tiến sĩ, làm đến Thượng thư bộ Hộ, tước Vịnh Kiều Hầu, có đi sứ nhà Minh. Ngoài ra ông còn là một nhà văn nổi tiếng đương thời. Khi chết còn để lại đời các tác phẩm: – Tiểu độc lạc phú – Tứ thời khúc vịnh (chữ Nôm) – Sứ trình khúc – Sứ Bắc Quốc ngữ thi tập Phan Huy Chú phê bình ông: “Lê Trung hưng về trước có Vịnh Kiều Hầu (Hoàng Sĩ Khải), Lê Trung hưng về sau có Đường Xuyên Tử (Vô Duy Đoán)”. – Sứ Bắc Quốc ngữ thi tập (1 quyển) do ông viết, Lê Quí Đôn, Phan Huy Chú có nhắc trong các sách của mình. – Sứ trình…    read more 

Hoàng Sầm

Danh thần nhà Mạc, quê làng Tô Đê, huyện Phụ Dực, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã An Mĩ, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Thái Bình). Năm Quí mão 1543 đời Mạc Phúc Hải ông đỗ hoàng giáp lúc mới 23 tuổi khoa Giáp thìn niên hiệu Quảng Hòa thứ tư (1543). Sau khi thi đỗ ra làm quan, ông hết lòng phò tá nhà Mạc tổ chức việc nội trị, tư pháp… nhằm thu phục lòng dân đề đủ sức chống đỡ nhà Lê nhằm giành quyền trị nước. Hoạn lộ ông hanh thông được thăng đến chức Thiêm đô ngự sử Thượng thư, tước Tô Xuyên Bá. Trên đường phục nhà Mạc ông cùng với Võ Kính, Ngọ Tĩnh, Hoàng Sĩ Khải, Tạ Hiển Đạo… hết lòng phò tá nhà Mạc. Đương thời ông được nhân dân và sĩ phu trọng vọng.

Hỗ trợ