[22]-Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Cao Bá Quát

Năm sinh Kỉ Tị 1809 – Giáp Dần 1854
Tỉnh thành Hà Nội
Thời kì – Nhà Nguyễn độc lập (1802-1883)

Danh sĩ đời Tự Đức, tự Chu thần, hiệu Cúc Đường, biệt hiệu Mẫn Hiên, quê làng Phú Thi, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Quyết Chiến, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội.

Ông là em sinh đôi với Cao Bá Đạt, nổi tiếng văn chương đương thời. Tổ xa đời là Cao Bá Hiên làm đến Thượng thư bộ Binh đời hậu Lê, cha là Cao Cửu Chiếu, cúng là bậc tài danh đương thời.

Năm Tân mão 1831, ông 22 tuổi, đậu Á nguyên trường thi Hà Nội. Nhưng thi Hội 2 phen đều bị đánh hỏng, ông buồn không thi cử nữa, ngao du non nước.

Năm Tân sửu 1841, quan đầu tỉnh Bắc Ninh để cử ông với triều đình, ông được triệu vào kinh sung chức Hành tẩu bộ Lễ. Ít lâu, được cử chấm thi ở trưởng hương Thừa Thiên, ông và bạn đồng sự là Phan Nhạ dùng khói đèn chữa một ít quyển văn hay mà phạm húy, toan cứu vớt người tài. Việc bị phát giác. Giám sát trường thi là Hồ Trọng Tuấn đàn hặc, ông bị kết vào tội chết. Nhưng vua Thiệu Trị giảm tội cho ông, chỉ cách chức và phát phối vào Đà Nẵng.

Gặp khi có sứ bộ Đào Trí Phú sang Tân Gia Ba công cán, ông được tha cho rời khỏi phối sở, theo sứ bộ đi lập công chuộc tội. Xong việc trở về, ông được phục chức cũ, rồi thăng làm chủ sự.

Năm Giáp dần 1854, ông phải đổi lên Sơn Tây, làm Giáo thọ ở phủ Quốc Oai. Ông buồn chán, phẫn chí bỏ quan theo làm quân sư cho Lê Duy Cự chống lại triều đình.

Việc khởi nghĩa ở Mĩ Lương thất bại, ông bị bắt lỗi bị hành quyết cùng với 2 con là Cao Bá Phùng và Cao Bá Phong năm ông 45 tuổi. Anh ông là Bá Đạt cũng bị liên lụy. (Về cái chết của ông sách Đại Nam thực lục chính biên chép rằng: viên suất đội Đinh Thế Quang bắn ông chết trong trận đánh nhau. Nhưng nhiều sách khác thì chép như trên).

Ông còn để lại cho đời bộ sách Chu Thần thi tập. Thơ văn ông dù bằng chữ Hán hoặc quốc âm đều hay và có giá trị nghệ thuật.

Những bài ca trù của ông rất xuất sắc. Đặc biệt bài phú Tài tử đa cùng, chỉ riêng một bài này thôi cũng đủ nêu cao tên tuổi ông đối với văn học nước nhà.

Khi ông mất mới 45 tuổi, bạn ông là Phương Đình Nguyễn Văn Siêu có bài thơ truy điệu rất thâm trầm:

“Duy biên thư sử, bích biên cầm,
Nhất mộng du du thất hảo âm.
Sơn hải di tang hà xứ ẩn
Hương quan li hận thử hồi thâm
Văn chương hữu mạng tương chung thủy
Thanh khí đồng bi tự cổ câm (kim)
Ngô đạo vị kham phân hiển hối,
Âu y kì nãi sĩ lưu tâm”.

Bản dịch:

Đàn còn bên vách, sách bên màn
Một giấc nghìn thu bặt tiếng vang,
Điên đảo non sông nhòa lối cũ,
Âm thầm đất nước ngấm bị thương
Duyên văn đã kết đây cùng đó,
Nghĩa cũ dù ai nhớ chẳng buồn!
Đạo học tỏ mờ chưa dễ biết,
Của người khép nép mãi sao đương.

Tác phẩm của ông sau này được sưu tầm và khắc in là Cao Chu Thần thi văn tập, có giá trị văn chương, học thuật cao của lịch sử văn học cận đại Việt Nam.

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..