Bệnh Da liễuNhóm bệnh

Bệnh Chốc? Nguyên nhân và cách điều trị

Bệnh chốc có tên tiếng anh là impetigo, một loại nhiễm khuẩn nông thường gặp ở da, khiên da nổi mụn mủ, bọng nước và các vết trợt đóng vảy tiết màu mật ong. Nguyên nhân thường gặp gây ra chốc là 2 loại vi khuẩn gây chốc lở là tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) và liên cầu (Stretococcus pyogenes).

1Bệnh chốc là gì?

Bệnh chốc có tên tiếng anh là impetigo, một loại nhiễm khuẩn nông thường gặp ở da, khiên da nổi mụn mủ, bọng nước và các vết trợt đóng vảy tiết màu mật ong.

Đổi với chốc hóa được sử dụng để chỉ các nhiễm trùng nông thứ phát của một vết thương hoặc một tình trạng da nhất định gọi là impetiginisation. Hoặc chốc loét ecthyma dành cho vết thương tổn loét sâu

Chốc lở là nhiễm trùng rất dễ lây, gây đau và làm xuất hiện các vết loét trên da. Trong một số trường hợp chúng thường đặc biệt xuất hiện xung quanh mũi, miệng, trên bàn tay và bàn chân. Như khi vỡ, chất lỏng sẽ chảy và tạo thành lớp vỏ màu vàng nâu…

2Nguyên nhân

Nguyên nhân thường gặp gây ra chốc là 2 loại vi khuẩn gây chốc lở là tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) và liên cầu (Stretococcus pyogenes). Cả hai đều sống trên da khi xâm nhập qua các vết thương do trầy xước hay hở sẽ dẫn đến bệnh chốc.

Hơn 90% bệnh nhân bệnh chốc lở là do khuẩn tụ cầu vàng gây nên, còn lại do khuẩn liên cầu (cùng nguyên nhân của nhiễm khuẩn hầu họng và bệnh ban đỏ). Hai loại vi khuẩn gây chốc lở- Staphylococcus aureus (tụ cầu khuẩn) và Streptococcus pyogenes, đều vô hại trên da trừ khi có vết thương và gây nhiễm trùng.

Chốc không có bọng nước (nonbullous impetigo) có thể gây ra bởi liên cầu tan huyết beta nhóm A, tụ cầu và/hoặc liên cầu xâm nhập vào các vết thương nhỏ trên da, ở đó có các protein giúp vi khuẩn gắn chặt vào tổ chức. Chốc bọng nước (bullous impetigo) thường do độc tố bong da của tụ cầu (exfoliatin A-D) tác động vào cầu nối desmoglein 1 của các tế bào gai ở thượng bì, làm bóc tách lớp nông củathượng bì, tạo hình ảnh giống pemphigus vảy lá.

Chốc loét thường do liên cầu nhưng có thể phối hợp với tụ cầu vàng, xảy ra trên cơ địa suy giảm miễn dịch, người già, người mắc bệnh mạn tính. Chốc thường gặp ở trẻ em, bé trai nhiều hơn bé gái. Ở người lớn, có thương tổn chốc khi miễn dịch kém. Bệnh hay gặp vào mùa hè, phổ biến ở các nước đang phát triển, điều kiện sống thiếu vệ sinh, dân cư đông. Chốc hay gặp sau một số bệnh da như viêm da cơ địa, ghẻ, thủy đậu, vết đốt do côn trùng, bỏng nhiệt, viêm da.

Nguyên nhân

3Triệu chứng

Các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh chốc lở thường được thấy qua vùng da hở như mặt, tay, chân là những nơi dễ gặp phải bệnh nhất, nhưng cũng gặp ở thân mình và các phần khác của cơ thể:

– Vết loét đỏ và mụn nước nhanh vỡ

– Các vết loét da quanh mũi, miệng hoặc các khi vực khác

– Ngữa và đau nhức ở những vùng bị chốc

– Có thể dẫn đến tình trạng sưng bạch huyết

Chốc không có bọng nước thường bắt đầu là một dát hồng, phát triển thành mụn nước, mụn mủ, khi vỡ sẽ tạo thành lớp vảy, sau đó vảy tiết bong và da sẽ đỏ ẩm, và dát thâm. Tuy nhiên, bệnh có thể lành và không để lại sẹo sau 2- 4 tuần nếu không điều trị.

Hoạch ngoại vi thường to.

Chốc loét thường chốc không bọng nước nhưng tiến triển thành những vết loét hoại tử và có thể sẽ để lại sẹo. Chốc bọng nước bắt đầu hình thành mụn nước nhỏ, rồi lớn dần. Bọng nước nông, dễ vỡ, kích thước nhỏ hoặc lớn, chứa dịch vàng, trong, sau chuyển sang vàng đậm, vỡ trong 1 đến 3 ngày, giống với chốc không có bọng nước khi lành không có sẹo. Xung quanh bọng nước có thể có quầng đỏ hoặc không.

Nếu như không được điều trị kịp thời và đúng cách có thể gây nhưng biến chứng nghiêm trọng:

– Viêm cầu thận

– Viêm tủy xương, quầng, mô bào

– Nhiễm trùng huyết

4Điều trị

Bệnh chốc lở là bệnh ngoài da nhưng tác hại thì rất nghiêm trọng, bệnh nhân nên tham khảo ý kiến bác sĩ để có được phương pháp điều trị tốt nhất. Sau đây là những phương thức điều trị thường được áp dụng:

Dùng thuốc bôi ngoài da: Sử dụng những loại thuốc có tính chất sát khuẩn và giúp làm khô vết thương như Nacl 0.9% hay thuốc tím dùng để vệ sinh vết thương, có thể dùng các loại thuốc kháng sinh dạng mỡ kem để bôi ngoài da: Fucidin, Foban hoặc Bactroban.

– Khi thương tổn lan rộng, nặng, dai dẳng và có nguy cơ biến chứng viêm cầu thận cấp: Dùng kháng sinh toàn thân. Có thể dùng kháng sinh nhóm β-lactam, cephalosporin, macrolid, penicillin bán tổng hợp (ví dụ Augmentin, Erythromycin, Cefixim…)

– Dùng kháng Histamin nếu có ngứa: Phenergan, Loratadin…

– Nếu chốc kháng thuốc phải điều trị theo kháng sinh đồ.

– Nếu có biến chứng phải chú trọng điều trị các biến chứng: chàm hóa, nhiễm trùng huyết, viêm cầu thận…

Điều trị

5Phòng tránh

Nếu trong gia đình có người bị chốc lở, cần thực hiện và áp dụng các biện pháp sau để tránh lây bệnh:

– Nhẹ nhàng rửa sạch vùng bị bệnh bằng xà phòng nhẹ dưới vòi nước chảy và sau đó băng lại.

– Giặt quần áo, khăn và đồ vải của trẻ hằng ngày và không để dùng chung với người khác trong nhà.

– Mang găng khi bôi thuốc và sau đó rửa tay thật kỹ.

– Cắt ngắn móng tay cho trẻ để trẻ khỏi cào gãi

– Khuyến khích trẻ rửa tay thường xuyên.

– Cho trẻ nghỉ ở nhà đến khi không còn lây bệnh.

Phòng tránh

Mong rằng với một số thông tin trên bài viết trên sẽ giúp ích được cho bạn trong việc phòng chống và điều trị bệnh chốc. Chúc bạn và người thân sẽ nhanh chóng khỏi bệnh nếu vô tình mắc phải căn bệnh này.

Theo : www.nhathuocankhang.com

Cùng chủ đề

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..