[24]-Nước Việt Nam mới (1945 - nay)Nhân Vật Lịch SửThời kỳ lịch sửViệt Nam

Bàng Bá Lân

Năm sinh Bính Thín 1916 – Bính Dần 1989
Tỉnh thành Hà Nam
Thời kì – Pháp đô hộ (1883-1945)
– Nước Việt Nam mới

Nhà thơ sinh năm 1916, đúng năm sinh là 1913, tại phố Tân Ninh, phủ Lạng Thương tỉnh Bắc Giang; nguyên quán làng Đôn Thư, phủ Bình Lục, tỉnh Hà Nam (nay thuộc tỉnh Hà Nam) tuổi thật sinh năm 1913 nên trong bài thơ Điếu Nguyễn Hiến Lê (1912 – 1984) có câu: “anh bảy mươi tư, tôi bảy ba”.

Thuở nhỏ học tại trường Vôi ở phủ Lạng Thương, sau về Hà Nội học trường Bưởi (Trường Trung học Bảo hộ), học xong Trung học ông về quê làm chủ đồn điền của gia đình. Từ năm 1939, ông viết và đăng thơ trên các báo xuất bản ở Hà Nội. Sau năm 1954 ông di cư vào Sài Gòn. Tại đây ông làm nghề dạy học tại các trường trung học tư thục và sáng tác văn chương, có thời gian làm chủ nhiệm kiêm chủ bút nguyệt san Bông lúa (Sài Gòn, 1956).

Thơ Bàng Bá Lân là tiếng nói mộc mạc của làng quê Việt Nam, khởi đi từ những con đường làng quanh co, cái cổng tre núp mình bên những hàng tre rười rượi bóng mát trong những trưa hè vắng lặng. Hình ảnh những tiếng sáo diều trong những chiều lộng gió từ lâu vẫn còn một ấn tượng sâu đậm trong lòng những người xa xứ.

Tiếng thơ Bàng Bá Lân khiến lòng người bồi hồi và lưu luyến về những hình ảnh nên thơ của đồng nội với hương cau, hương bưởi ngọt ngào nơi chôn nhau cắt rún. Thơ ông vì vậy sẽ sống mãi với hồn quê dân tộc.

Các tác phẩm của ông, gồm có:

Tiếng thông reo (1941) (thơ)
Thơ Bàng Bá Lân (1957) (thơ)
Tiếng võng đưa (1957) (thơ)
Việt văn bình giảng (1962) (phân tích văn chương)
Văn thi sĩ hiện đại (1963 – hồi kí phê bình)
Vào thu (thơ – 1969)
Người vợ câm (1969 – truyện)
Vực xoáy (1969 – tập truyện)

Bài liên quan

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button

Đã phát hiện chương trình chặn QUẢNG CÁO!

Xin hãy tắt chương trình chặn quảng cáo, bấm F5 (refresh) lại trang nếu trình duyệt không tự động..